BẢN TIN THƯ VIỆN

TÀI NGUYÊN SỐ

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Ảnh ngẫu nhiên

Picture3.png TiengViet4KetnoiTuan29Bai20Tiet12ChieungoaioTrang93.jpg TiengViet4KetnoiTuan3Bai6Tiet4NoivangheKechuyenBonanhtaiTrang29.jpg Toan5KetnoiBai1OntapsotunhienTiet1trang6.jpg Screenshot_1309.png

HOẠT ĐỘNG TIẾT HỌC TIẾT ĐỌC THƯ VIỆN THCS

TỦ SÁCH VẠN ĐIỀU HAY

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • 💕💕 Nếu sách là ngọn đuốc soi đường, thì học liệu số là cả mặt trời tri thức.💕💕Học liệu số không chỉ là sách điện tử, mà là cánh cửa mở ra tri thức vô hạn.💕💕

    Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam

    Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam

    Việt Nam sử lược

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
    Ngày gửi: 18h:02' 07-04-2024
    Dung lượng: 614.6 KB
    Số lượt tải: 2
    Số lượt thích: 0 người
    Nam Việt Lược Sử
    Thể loại: History
    Tác Giả: Nguyễn Văn Mai
    Nhà xuất bản Sài Gòn -1919
    Biên tập Ebook: http://www.SachMoi.net
    Ebook thực hiện dành cho những bạn chưa có điều kiện mua sách.
    Nếu bạn có khả năng hãy mua sách gốc để ủng hộ tác giả, người dịch và Nhà
    Xuất Bản

    TIỂU DẪN
    I- Sử: Sử là truyện tích xưa, chỉ dẫn cội rễ một nước, một loại dân chép những sự tân
    hóa, những lúc hưng vong, trị loạn, những thói tục, đạo đức cùng sự giao thiệp với
    ngoại bang. Lấy xưa mà sánh nay, lấy lành mà răn dữ, sử cũng là gương soi mình cho
    các đấng cầm quyền trị nước và nhân dân vậy: vua chúa xem lấy mà tu cang kí, nhơn
    dân đọc lấy mà sửa tề gia.
    II- Đời sơ nguyên: Sự văn minh hóa của một nước khởi từ khi bày ra chữ nghĩa, nhất
    là từ khi tìm đặng phép in sách vở mà lưu truyền đến sau. Có sách vở mới tri nguyên
    những sự tích xưa mới lập thành chánh sử được.
    Phàm sử ký nước nào cũng vậy, cũng chia ra làm hai đời phân biệt: đời thượng cổ - là
    đời u minh chưa có sử và đời chánh sử - là đời đã có chữ nghĩa văn minh. Những
    truyện xứ ta trong thời thượng cổ, từ nhà Hồng bang cho đến nội thuộc Trung nguyên
    thì chép y theo sử Tầu. Phần nhiều là những điều truyền khẩu, nhưng sự phi thường
    không đáng tin, vì không có đủ bằng cớ mà kê cứu. Nước Nam có chính sử là kể từ
    năm 111, trước Chúa giáng sinh, Tầu mới qua chiếm trị, bắt người Nam học chữ Nho,
    theo đạo nho.
    III- Dòng giống người Annam: Người Annam cũng thuộc một chi với người Tầu và
    người Nhật bản, gốc bên Tây tạng (Thibet) mà ra. Lúc ban sơ mới lìa chi thì lần qua
    phía Đông, nơi tỉnh Vân nam, Quảng tây, Quảng đông bây giờ. Đụng người Trung
    nguyên không chống cự nổi, mới dồn xuống phía nam, nơi xứ Bắc kỳ, thì lại gặp dân
    bổn thổ: Lào, Lâm ấp, Chiêm thành (Ciampois), Chân lạp (Cambodgiens). Khi đó
    phải tranh phong với những dân ấy đã nhiều trận, đã lâu đời, mới lấy đặng nước
    chúng nó, rồi cũng có ăn chung lộn với nhau mà nối sanh ra, thì dòng giống người
    Nam lai lần đầu.
    Đến sau hết từ đời Tây hán, vua Hiếu võ đế nước Nam bị Trung nguyên chế phục (111

    trước chúa giáng sinh). Người Tầu mới sang qua mà lập nghiệp, kết bạn cùng đàn bà
    xứ ta mà sinh sản ra thì cái cốt cách nguyên sơ của người Nam lại đổi khác nữa, nhưng
    mà chưa có lạc mất.
    III- Đạo của dân Annam: bên Trung nguyên từ đời Tam hoàng, Ngũ đế cho tới Hạ,
    Thượng, Châu, chỉ lấy đạo Trời Đất làm gốc. Thiên tử thì tế Giao, tế Xã là tế Trời Đất;
    chư hâu tế Sơn Xuyên là tế thần núi song, công khanh tế thần Hậu thổ, thần Đất đai.
    Còn sĩ thứ tế tổ tiên ông bà qua vãng.
    Đời Châu định vương (606 – 585) trước chúa giáng sinh, lão đa, xuất thế (604 – 500)
    bầy ra đạo đức kinh. Từ ấy mới có đạo Lão tử.
    Đời Châu linh vương (571 – 544) trước chúa giáng sinh, đức Khổng tử (550 – 480)
    truyền đạo Nho, dạy cang thường luân lý.
    Đến năm 207 trước công nguyên, nhằm đời Tây hán, vua Cao tổ đạo Phật bên xứ
    Thiên trúc đã sang qua Trung nguyên. Đời Tây Hán vua Hiếu minh đế (58 – 76) sau
    chúa giáng sinh, sai người qua thiên trúc mà rước thầy sãi và thỉnh kinh Phật.
    Đạo Lão tử, đạo Nho, đạo Phật kêu là Tam giáo, dân Tầu cũng kính thờ hết cả ba.
    Sử nước Nam, đời sơ nguyên chép rằng: nhà Hồng bang là dòng dõi Thần nông. Vậy
    thì lúc xưa ta cũng giữ đạo thời Trời đất và ông bà. Sau nước nam bị Trung quốc
    chiếm trị, thì người Nam cũng theo Tam giáo như người Tầu vậy, duy lấy sự phụng tự
    nhiên làm gốc.
    V- Sử nước nam: nước Nam có quốc sử kể từ đời Trần Thánh Tông (1258 – 1279).
    Ông Lê Văn Hưu phụng lệnh soạn thành bộ Đại việt sử ký, khởi từ Triệu võ Vương
    cho đến Lý Chiêu Hoàng thì dứt. Sau mới chép với tới Hồng bàng thị.
    Phép lu sử thì dẫn những việc các dòng vua trước chớ không nói về dòng vua đương
    trị vì nhà sử quản biên những điều đại khái các đời vua ấy mà để có nơi, qua họ khác
    lên cầm quyền thì mới lấy ra mà viết nối theo, lần lần như vậy mới tư thành quốc sử.

    Sử Nam cũng như sử Tầu còn sơ lược, chỉ chép giặc giã nhắc chuyện nhà vua, còn sự
    văn minh lấn hóa, việc nông cơ, kỹ nghệ, đạo đức, cách ăn thói ở của dân và đều quí
    trọng hơn hết là sự học hành thì phớt qua mà thôi, cũng có khi không nói đến. Muốn
    hiểu rõ sự tích nước mình thì phải xem mấy pho sử của người Lãng sa soạn ra, ngặt
    phần nhiều dân Nam không thông chữ Pháp.
    Bổn sử tôi soạn ra đây dẫn giải tuy là đại lược nhưng mà do theo chương trình mới về
    bậc Sơ học thì cũng đủ cho con nhà Nam đọc lấy cho rõ cội nguồn rễ xứ mình.
    Những sự tích đem vào sách nầy, nhất là từ nhà Nguyễn tới sau, đã có tra sát trước
    trong mấy quyển sử chữ Tây.
    Sau rốt tôi có đính thêm bản kể các đời vua Annam, đối với các đời vua Tầu và Lãng
    sa, từ sơ nguyên cho đến bây giờ, trước là để phụ ích cho sách nầy, sau nữa là giúp kẻ
    nào hay nghiệm xưa nay khỏi nhọc công tìm thêm.
    Vĩnh hội – Aoril 1919
    NGUYỄN VĂN MAI
    NAM VIỆT LƯỢC SỬ

    CHƯƠNG I: ĐỜI SƠ NGUYÊN TỚI NĂM 968 (SAU
    GIÁNG SINH).
    I. Nhà Hồng bàng
    20 đời vua, trị 2647 năm (2874 – 257, trước giáng sinh)
    1- Kinh Dương Vương: vua này là con vua Đế minh, chắt vua Thần nông bên Trung
    quốc, lên ngôi năm 2874, đặt niên hiệu là Kinh Dương Vương. Nước Nam khi ấy kêu
    là Xích Qùi, phía Bắc giáp tỉnh Quảng tây, phía Đông giáp Nam hải, phía Tây giáp
    nước Thục (tỉnh Cao bằng), phía Nam giáp xứ Chiêm thành (Ciampa)
    2- Lạc Long Quân: con vua Kinh dương Vương tên là Lạc Long Quân, Lạc Long Quân
    truyền ngôi lại cho con trưởng nam là Hùng vương thứ nhất. Kể từ đây những kế vị
    đều lấy hiệu Hùng vương cho đến đời Hùng vương thứ 18 (257) trước giáng sinh thì
    mất nước.
    3- Hùng vương thứ nhất: Vua này cải tên nước lại là Văn Lang, chia làm 15 quận:
    - Văn lang (đế đô)
    - Giao chỉ (Hà nội, Hưng yên, Nam định)
    - Châu diễn (Sơn tây)
    - Võ ninh (Bắc ninh)
    - Phước lộc (Sơn tây)
    - Việt thường (Quảng bình, Quảng trị)
    - Ninh hải (Quảng yên)

    - Dương tuyên (Hải dương)
    - Lục hải (Lạng sơn)
    - Võ định (Thái nguyên, Cao bằng)
    - Hoài hoan (Nghệ an, Hà tĩnh)
    - Bình giao….
    - Tân hung (Hưng hóa, Tuyên quang)
    - Cử đức
    Sự giao tiệp với nước Tầu
    Năm 110 trước giáng sinh, bên Tầu nhằm vua Thành vương, chà Châu, vua Annam
    sai sứ qua cống bạch trĩ. Lúc trở về ông Châu công Đáng là chú vua, sợ sứ đi lạc
    đường, bèn dạy đóng một cỗ xa, có để cái địa bàn chỉ hướng nam cho sứ.
    Sự giao thiệp và tận cống với nước Tầu là kể từ đời này.
    Tích vẽ mình
    Đời Hùng vương thứ nhất bày ra thủ tục vẽ mình là vì dân sự đi làm nghề chai lưới,
    thường bị những loài thủy tộc phá hoại. Vẽ mình ra có rắn rực, thì rắn rít, sâu, cá,
    tưởng là đồng loại với nó mà không động đến.
    Tục vẽ mình xâm mình đến nay hãy còn nơi các mán mọi, như Mường, ở Tonkin,
    Kha, ở Lào.
    Cũng như đời vua Hùng vương này bầy ra đóng ghe có vẽ con mắt hình như cá.
    Tích bão lụt xứ Bắc

    Vua Hùng vương thứ 18 có một đứa con gái dung nhan đẹp đẽ. Vua nhà Thục đã nghe
    phen cậy người đi nói cho thái tử, mà vua Hùng vương không chịu gả. Ngày kia có hai
    người trai tới xin làm rể. Vua phán rằng: trẫm vốn có một đứa con, không lẽ đưa cho
    hai người. Như rạng sáng mai ai đem sính lễ tới đủ thì trẫm sẽ gả cho.
    Sơn tinh đến trước, cưới được công chúa, đem lên núi Tản viên (Tonkin). Thủy tinh
    chậm bước hụt vợ, nên oán hận, làm dông gió bão lụt đặng hại Sơn tinh, mà không
    làm chi nổi.
    Bởi vậy, hễ khi nào có bão lụt, thì những người hay tin dị đoan thường nói rằng lại là
    sự cừu ấy mà ra.
    Hùng vương thứ 18: Vua này hoang dâm vô độ, không lo việc quốc chính, lại gây họa
    cho nước nhà, là vì không khứng gả công chúa cho tháu tử nước Thục. Vua nước
    Thục, tên Phán dấy binh đánh gấp, vua Hùng vương tính bề cự không nổi, bèn tự vẫn
    mà chết, hết đời Hồng bàng, truyền qua đời Thục.
    II. Nhà Thục
    1 đời vua, trị 50 năm (257 -207) trước giáng sinh.
    Cháu nội vua nước Thục, tên là Phán, lấy đặng nước Văn lang của Hùng vương, bèn
    sát nhập với nước mình là Âu lạc, kêu là Âu việt, lên ngôi xưng là An dương Vương ,
    trị đặng 50 năm. Vua này không có con trai, có một người con gái gả cho con Triệu
    Đà. Sau bị triệu đà dụng quỉ kế lấy đặng nước dựng nên nhà Triệu.
    Nguyên nước Âu việt ở giáp cương giới với nước Tầu, có nhiều thứ thổ sản quí lạ, nên
    ghe phen Trung quốc muốn chiếm đoạt. Tần thủy Hoàng (246 – 209) trước giáng sinh,
    sai hai tướng Nhâm Ngao và Triệu đà qua đánh Âu việt. Đánh đã lâu mà lấy không
    được. Kế Tần Thủy Hoàng băng, Nhâm Ngao qua đời còn một mình Triệu đà cô thế,
    cứ giữ xứ Lãnh nam (phía bắc nước Âu việt)
    Triệu đà thừa lúc loạn Trung nguyên , nhà Tần mất, tính lập một cõi riêng, bèn giao

    lân cùng vua An Dương Vương cưới công chúa cho con. Sau đặng binh ròng tướng
    mạnh, trở lại đánh vua An dương Vương mà lấy nước, lập nên đời nhà Triệu.
    III. Nhà Triệu.
    5 đời vua trị 96 năm (207 – 111) trước giáng sanh.
    1- Triệu võ đế (207 – 136) Triệu Đà lấy đặng nước Âu việt, sát nhập với nước mình,
    kêu là Việt nam, rồi lên làm vua hiệu là Triệu võ đế, đóng đô tại Phiên ngu (tỉnh
    Quảng đông). Lúc nầy bên Trung quốc, Lưu Bang diệt Hạng Võ lập nên đời Tây Hán.
    Hán cao tổ sai Lục Giả qua Việt nam phong tước cho Triệu Đà. Từ khi ấy nước Nam
    cứ giữ đạo chư hầu, thường năm dâng cống cho nhà Hán.
    Hán cao tổ băng (194), Lữ Hậu phế Huệ đế lên tiếm ngôi, bèn cấm người Trung quốc
    không cho bán đồ khí cụ cho Annam. Triệu võ đế giận cử binh đánh lấy nước Trường
    sa, là nước chư hầu của Trung quốc rồi xưng đế như vua Trung nguyên vậy.
    Lữ hậu mất Hiếu văn đế lên ngôi, sai Lục Giả qua giải hòa với Triệu Đà. Từ đấy nước
    Nam qui phục lại nước Tầu như xưa.
    2- Triệu văn vương (136 – 121) Hồ lên ngôi xưng là Triệu văn vương. Vua này tính
    không ưa giặc giã. Lúc người trị vì, có nước Mân việt là nước chư hầu của Trung
    quốc, qua xâm phạm cõi Nam. Vua sai sứ đi viện binh nhà Hán dẹp đặng giặc rồi cho
    con trưởng nam là Anh tế qua ở làm con tin triều Hán.
    3- Triệu minh vương (124 – 113) Anh Tề lên ngôi, xưng hiệu là Triệu minh vương, trị
    nước được 11 năm. Lúc Anh Tề qua làm con tin bên nhà Hán, thì có cưới một người
    vợ Trung nguyên tên là Cù thị, sanh đặng một đứa con trai kêu là Hưng. Anh Tề
    phong Cù thị làm hoàng hậu, Hưng làm thái tử, phế con của người vợ Annam khi
    trước là cho đình thần bất bình.
    4- Triệu ai vương (113 – 111) Hưng lên nối nghiệp cha, xưng hiệu là Triệu ai vương ở

    ngôi đặng ít năm, kế nhà Hán sai sứ qua đòi vua và mẹ con hầu ngự giá, thì trong
    nước bọn đình thần có ông Lữ gia nới rằng: vua và hoàng thái hậu âm mưu mãi quốc,
    bèn khiến dân dậy lên bắt giết cả hai người rồi tôn con người vợ Annam lên ngôi, hiệu
    là Thuật dương vương.
    5- Thuật Dương vương (111) vua này ở ngôi chưa đầy một năm, kế bên triều Hán, vua
    Hiếu võ đế cử binh qua lấy nước mà sáp nhập về Trung nguyên.
    IV. Thuộc Trung nguyên lần thứ nhất
    Năm 150 – 111 trước giáng sinh – 39 sau giáng sanh
    Năm 1 Chúa giáng sinh, nhằm đời Hiếu ai đế (Tây hán - kể từ đây về sau là đời Thiên
    chúa.
    Triều Tây hán sai quan Tầu qua cai trị chia nước Nam là 9 quận:
    - Nam Hải (Quảng đông)
    - Thương ngô (Quảng tây)
    - Uất lâm (Quảng tây)
    - Hiệp phò (Quảng đông)
    - Giao chỉ (Quảng tây)
    - Cửu chân (Quảng tây)
    - Nhựt nam (Tonkin)
    - Châu nhai (Cù lao, Hải nam)
    - Thiên nhĩ (Cù là gần Hải nam)

    Trong bọn quan Tầu qua cai trị nước Nam có 2 người: Tích quang và Nhâm Diên hay
    lo lắng cho dân. Tích Quang thì dậy dân học chữ nghĩa cùng đạo lý đức Khổng tử,
    Nhâm Diên dậy dân vỡ đất làm ruộng, trồng dâu nuôi tằm. Còn những quan khác hay
    tham ô, làm nhiều điều khắc bạc, nên thường gây ra loạn lạc.
    Năm 39 sau công nguyên, nơi quận Giao chỉ có một người đàn bà tên là Trưng trắc
    khiến dân dấy lên, bắt thái thú Tô Định giết đi mà báo cừu cho chồng, rồi thâu cả
    nước Nam lên làm vua được 3 năm.
    V. Trưng nữ vương (39 – 42)
    Trưng Trắc lên ngôi đặng vài năm, kế bên Trung nguyên, triều Đông Hán, vua Quan
    Võ sai Mã Viện qua bình phục Giao chỉ. Ban đầu đánh nhau cầm cự, chưa biết hơn
    thua. Sau binh Giao chỉ vẫn không thiện nghề chinh chiến, bèn đỏ lần hết, Trứng Trắc
    và em là Trưng Nhị thế cùng nên phải tự vẫn cho khỏi bị nhục.
    Mã Viện bình Giao chỉ rồi, truyền đúc một cây trụ đồng, trồng tại Khâm châu có khắc:
    Đồng trụ chiết, Giao chỉ diệt (Đồng trụ ngã, dân Giao chỉ dứt.)
    Từ đây nước Nam phải sát nhập về Trung Nguyên lần thứ hai.
    VI. Thuộc trung nguyên lần thứ hai
    144 năm (42 – 186)
    Sĩ vương 186 – 226 Lúc này bên Trung nguyên nhà Đông Hán hầu dứt, qua Tam quốc
    phân tranh. Sĩ nhiếp dùng dịp loạn xưng vương, hiệu là Sĩ vương, trị nước được 40
    năm. Nguyên Sĩ nhiếp là người Trung quốc mà tiên nhơn sang ở nước Nam lâu đời,
    nên đã thành người Nam.
    Sĩ Nhiếp lên ngôi xưng hiệu là Sĩ vương, khai trường dậy chữ nho, dậy phong hóa
    Trung quốc. Đời vua này có nhiều người hay chữ không kém chi người Trung
    nguyên. Sĩ nhiếp băng, Đông ngô sai tướng là Lữ Đại qua dụ em Sĩ Nhiếp là Sĩ Huy

    thần phục nhà Ngô rồi thừa thế mà giết đi. Nước Nam bị sát nhập về Trung nguyên lần
    thứ 3.
    VII. Thuộc về Trung nguyên lần thứ ba
    314 năm (226 – 540)
    Từ năm 226 tới 540 nước Nam bị nhà Hậu Hán Ngô, Ngụy (Tam quốc) Tấn Tống Tề
    Lương kiềm chế 314 năm.
    Những quan Trung Nguyên qua cai trị cõi Nam trong mấy đời ấy thì cũng như các
    quan đời trước ít người nhân hậu, nhiều tay tàn bạo. Thuở ấy có xứ Lâm ấp, sau kêu là
    Chiêm thành (Ciampa) ở phía nam hay đến đánh phá nước Nam. Đã bao phen bị thua,
    bị giết mà không chừa tính hung hăng. Qua đến đời chứa Hiền vương (1649 – 1685)
    nhà Nguyễn mới trừ tuyệt.
    Nước Nam lúc nầy về nhà Lương chế trị. Quan thái thú Tiêu tư là nhiều điều độc ác,
    khiến lòng dân oán hận. Lý Bôn thừa cơ hội cầm binh đánh đuổi quân Trung nguyên
    rồi lên ngôi hiệu là Lý Nam đế.
    VIII. Nhà tiền Lý
    2 đời vua, trị 58 năm (544 – 602)
    1- Lý nam đế: 544 0 548 , bốn năm. Lý Bôn vốn là người Trung nguyên, nhân lúc loạn
    Tây Hán. Vương Mãng soán ngôi vua Hiếu bình, qua ở ngụ tại Giao châu lâu đời, nên
    đã thành người Nam.
    Lý Bôn lên ngồi xưng là Lý Nam Đế trị được 4 năm, kế bên Trung nguyên, nhà Lương
    sai Trần bá Tiến qua đánh Nam việt, Lý Nam Đế yếu thế bèn giao quyền cho tướng
    quân Triệu Quang Phục, cách ít năm thọ bệnh mà băng.
    2- Triệu Việt Vương 549 – 570, 24 năm. Triệu Quang Phục cầm binh đánh với quân
    Tầu đã lâu. Sau binh Trần bá Tiên đổ lần, rồi rút về Trung nguyên hết. Triệu Quang

    Phục lên ngôi hiệu là Triệu Việt Vương, trị được 21 năm rồi truyền lại cho Lý phật Tử,
    là dòng dõi tôn thất nhà Lý.
    3- Lý Phật Tử, 570 502, 32 năm. Lúc này Trung Nguyên nhắm nhà nhà Tùy. Tùy
    dương Kiên sai Lưu Phương sang đánh Nam Việt. Lý Phật Tử sợ, bèn xin qui hàng. Từ
    đây nước Nam bị Trung nguyên kiềm chế lần thứ 4.
    IX. Thuộc trung nguyên lần thứ 4.
    Từ năm 603 – 939 bên Trung nguyên nhằm đời Tùy, Đường, Ngũ đại.
    Vua nhà Tùy nghe nói bên cõi Nam, nơi xứ Lâm ấp có nhiều vật quí lạ, nên sai Lưu
    Phương qua một lần nữa mà cướp phá, vua Lâm ấp là Phạm phàn Chi chống cự không
    nổi, quân Trung nguyên đoạt được kinh thành Lâm ấp, cướp giật của cải, còn Lưu
    Phương thì lấy vàng ngọc rất nhiều. Nhưng mà lúc trở về, binh chết hết ba phần, Lưu
    Phương cũng bỏ mình.
    Nhà Tùy mất (617), nhà Đường dấy (618) vua Đường cảo tổ cải nước Nam Việt lại
    thành Annam đô hộ phủ, chia làm 13 châu.
    Nước Annam khi ấy, kể từ Bắc kỳ cho tới tỉnh Quảng Nam. Trên phía Tây bắc là nước
    nam chiều (tỉnh Vân nam) phía Tây là nước Lào, phía Nam là nước Chân lạp (Cao
    man) còn nước Lâm ấp (Chiêm thành) ở từ quận Nhật nam cho tới ranh chơn lạp.
    Nhà Đường cai trị nước Nam. Đường cao tổ lên ngôi Trung nguyên năm 618. Việc cai
    trị xứ Annam lúc bấy giờ cũng như các đời vua trước: trên hết thị đặt một quan Thứ
    sử, gồm hay cả xứ thuộc địa, dưới thì mỗi châu có một thái thú cai trị. Những viên
    quan phần nhiều là người Tầu, tính tham lam độc ác lại quá hơn khi trước.
    Dân An Nam bị sưu cao thuế nặng đã ghe phen muốn khởi loạn, mà không thành sự.
    Có quan thái thú Lý Trắc làm khổ các mán mọi, nên gây họa., Các mán mọi hiệp với
    nước Nam chiếu tới cướp phá đuổi người Tầu, thâu được nước Nam. Sau nhà Đường
    sai Cao Biền bình định trong 10 năm mới yên. Cách ít lâu binh Nam chiều kéo đến

    một lần nữa. Nhà Đường dụng kế đưa công chúa cho vua Nam chiếu. Vua Nam chiếu
    ngờ là thiệt, bèn sai ba viên danh tướng đi đón rước, thì cả ba điều bị thuốc độc mà
    thác, từ ấy nước Nam mới yên đặng một khoản.
    Khúc Hạo, Khúc Thừa Mỹ: Nhà Đường suy, sang đời Ngũ đại (907 – 957), là hậu
    Lương, hậu Đường, hầu Tấn, hậu Hán, Hậu châu.
    Nhà hậu Lương phong Lưu Ấn làm Nam bình vương, đóng đô tại Phiên ngu, phong
    Khúc Hạo là Thái thú Giao châu (An nam).
    Lưu Ấn qua đời , em là Lưu Nghiêm lên thế vị xưng là hoàng đế Nam hán (917)
    Khúc Hạo mất, em là Khúc Thừa Mỹ vâng mạng vua hậu Luong, gồm trị cả 12 châu
    xứ Nam. Cách ít lâu vua Nam Hán khởi binh đánh bắt Khúc Thừa Mỹ. Dương Đình
    Nghệ cầm binh đuổi quân Nam hán, rồi lại bị Kiều công Tiện là tướng của mình âm
    mưu giết đi.
    Khi ấy có Ngô Quyền, gốc là người An Nam cũng là tướng của Dương Đình Nghệ ra
    chống cự, thắng được Kiều Công |Tiện, sau lập nên nhà tiền Ngô, làm vua được 5 đời
    trị được 30 năm.
    X. Nhà tiền Ngô
    5 đời vua, trị 30 năm 939 – 968
    Ngô Quyền làm vua được 5 năm 939 - 941 thì băng, truyền ngôi lại cho con là Xương
    Ngập, khi ấy còn nhỏ. Dương Tam Ca là cầu lên làm phụ chánh, rồi dùng dịp mà đoạt
    ngộ, xưng Bình vương 945 – 949. Sau bị Xương Văn là con thứ Ngô Quyền giành lại à
    cai trị, rồi truyền cho Xương Xí.
    Lúc này nước An Nam chia làm 12 châu, mỗi châu có một sứ quân, mỗi sứ quân thì
    xưng vương một cõi, mạnh lẫn yếu, loạn lạc cả năm. Hậu Ngô vương là Xương Xí
    cũng trấn một quận, không làm gì nổi mấy sứ quân khác, tuy là khỏi làm tôi mọi

    Trung nguyên, chứ người Nam chưa dựng được nền độc lập. Sau đó có một người họ
    Đinh dấy lên dẹp 12 sứ quân, lập nên đời chính thống.

    CHƯƠNG II: ĐỜI CHÍNH THỐNG.
    I. Nhà Đinh
    2 đời vua trị được 13 năm 968 – 981
    1. Đinh Tiên Hoàng: 968 – 980, 12 năm. Người dẹp yên 12 sứ quân ấy là Đinh Bộ
    Lĩnh, quê ở Hoa lư ( tỉnh Ninh Bình), vố là con của Đinh Công Trứ, làm thái thú châu
    Hoan khi trước. Cha mẹ mất sớm, Đinh Bộ Lĩnh ở làm thỉ hạ với sứ quân Trần minh
    Công quận Bố chính. Trần minh Công qua đời, Đinh Bộ Lĩnh bèn chiêu tụ anh hùng,
    rồi cử binh đánh đuổi các sứ quân.
    Năm 968, người lên ngôi xưng hiệu là Đinh Tiên Hoàng, cải nước Nam là Đại Cồ Việt.
    Phong cho Lê Hoàn là tôi công thần làm chức Thập đạo tướng quân. Vua này bề luật
    rất nghiêm, trước sân chầu có để vạc dầu sôi, có nhốt thú dữ, mà răn dân sự cho
    chúng nó bỏ thói hung hăng theo đời 12 sứ quân. Vua lại tu chỉnh việc binh nhung,
    phân ra có đội ngũ giao cho Lê Hoàn quán thống. Năm 980 vua bị tên Đỗ Thích giết,
    đình thần tôn con thứ của vua tên là Triều lên Kế vị.
    2. Phế đế 980 -981. 1năm. Triều lên ngôi hiệu là Phế đế, khi ấy mới có sáu tuổi.
    Quyền nhiếp chính về tay Lê Hoàn, oai thế lẫy lừng, vì có tư thông với bà Dương Thái
    Hậu là vợ vua Đinh Tiên Hoàng. Trong bọn đình thần có người bất bình, toan mưu hại
    Lê Hoàn. Lê Hoàn hay được bèn bắt mà giết đi. Lúc này Trung nguyên cử binh qua
    đánh nước Nam. Quan sĩ hòng ra trận, thì có người nói rằng: vua còn thơ ấu, lấy ai mà
    thưởng phạt cho minh. Chi bằng ta tôn Thập đạo tướng quân lên rồi sẽ đánh không
    muộn chi. Nói vừa dứt lời cả triều đều tung hô, phò Lê Hoàn lên ngôi, lập nên nhà
    tiền Lê.
    Từ Đinh Tiên Hoàng 968 cho đến năm 1278, bên Trung nguyên nhắm đời Bắc Tống
    (Triệu Khuông Dẫn)

    II. Nhà Tiền Lê
    3 đời vua trị 28 năm 981 – 1010
    1. Lê Đại Hành, 981 – 1006, 25 năm. Lê Hoàn tức vị, xưng Lê Đại Hành. Các quan
    triều bái vừa xong, vua ra trận đánh thắng, hai tướng Trung nguyên bị bắt triệu về
    kinh. Sau có sứ triều Tống qua giao hòa, vua dạy trả lại.
    Khi ấy Chiêm thành vì phép, bắt cầm sứ An Nam, vua Lê Đại Hành kéo binh đánh
    phá tan hoang, đốt kinh đo, chùa miếu, lấy của cải rất nhiều.
    Lê Đại Hành băng hà năm 1006, di chúc lập con thứ là Long Việt.
    2. Lê Trung Tông: 1006. Long Việt lên ngôi hiệu là Lê Trung Tong, làm vua mới được
    3 ngày bị em là Lê Long Đĩnh thi đi mà giành quyền.
    3. Lê ngọa triều, 1006 – 1010, 4 năm. Vua này tính độc ác, ưa xem những sự dữ tợn.
    Vua dạy bắt tội nhân, lấy rơm tẩm dầu rồi đốt cháy mà coi chơi. Có khi lại bắt thầy sãi
    (nhà sư) quì xuống, để mía lên đầu mà róc, giả đò sẩy tay nhầm, chảy máu ta lênh
    láng. Sử đặt tên vua này là Ngọa triều, vì tính hay dâm dục, nên mang bệnh, hệ mỗi
    khi lâm triều thì nằm. Lê ngọa triều băng, để lại một đứa con trai còn nhỏ, sau bị Lý
    Công Uẩn là tôi quyền thần phế đi mà lập nên đời hậu Lý.
    III. Nhà hậu Lý
    IV. 9 đời vua, trị 215 năm (1010 – 1225)
    1. Lý Thái Tổ: 1010 – 1028, 18 năm. Lý Công Uẩn lên ngôi, hiệu là Lý Thái Tổ, đóng
    đô tại Đại la, sau cải lại là Thăng Long (Hà Nội), ấy là đế đô nhà hậu Lý tới nhà hậu
    Lê.
    Đời này thật thái bính, dân no đủ, vua tu tạo đền đài, sửa sang đế đô lại nên rất xinh
    đẹp. Triều nhà Tống (Chân Tông, 998 – 1023) sai sứ qua phong cho Lý Công Uẩn là
    Giao chỉ quận vương.

    Vua trưng các sắc thuế, lập đồn thủ để mà thâu thuế xuất cảng nhập cảng.
    Qua năm 1028 Lý Thái Tổ băng, truyền ngôi lại cho con truowgr nam là Phật Mã.
    2. Lý Thái Tông 1028 – 1054, 26 năm. Lý Thái Tông (Phật Mã) chưa tức vị, thì ba em
    vua bèn kéo binh tới vây thành, nhờ có ông Lê Phụng Hiểu ra cự, chém được một
    người, mới yên đám giặc ấy. Đời vua này trong 15 năm đầu, mắc lo việc chinh chiến,
    dẹp tan giặc trong nước, giặc ngoài biên thùy lại nổi lên. Năm 1043, binh Chiêm thành
    cướp phá dọc gành bãi nước Nam, Lý Thái Tông cử binh kéo tới thành đô, bắt được
    3000 dân Chàm đem về nước cho đất vỡ ruộng làm ăn.
    Nước Chiêm thành khi ấy kể từ tỉnh Quảng trị cho tới Bình thuần bây giờ, còn nước
    An Nam kể hết xứ Bắc Kỳ cho tới Quảng trị.
    Đời nhà Lý hay sùng đạo Phật. Vua Lý Thái Tông thừa lúc thái bình lập chùa miếu,
    cấp ruộng đất để lấy hoa lợi mà phụng tự. Vua này tính khoan nhân đại độ, hằng lo
    cho dân được ấm no. Năm mất mùa bão lụt, giặc giã thì giảm thuế, lại xuất của kho
    mà trợ kẻ nghèo. Vua ra chỉ cấm nhặt nghê buôn mọi, lập nhà tram, dạy kiểm duyệt
    luật hình, luật hộ, đinh phần hưu trí cho các quan văn võ.
    Đời vua này, bày nghề dệt tơ lụa. Lý Thái Tông băng năm 1054, có di chúc lập thái tử
    Nhật Tôn.
    3. Lý Thánh Tông, 1054 – 1072, 18 năm. Nhật Tông lên ngôi, hiệu là Lý Thánh Tông,
    cải nước Giao chỉ là Đại Việt. Đời này có giặc Chiêm Thành dấy lên nữa. Vua cử binh
    đi đánh chín tháng trường mà không dẹp yên được. Lúc trở về, nghe người khen ngợi
    bà hoàng hậu có công trị nước, vua bèn hổ thẹn kéo binh trở lại, ra sức đánh phá
    Chiêm thành.
    bắt được chúa tể là Chế củ đem về nước. Sau Chế Củ phải dần châu Địa trí (Quảng
    bình) và châu Ma linh (Quảng trị) mà chuộc tội.
    Vua này dậy chế độ triều phục của các quan văn võ, bày đội mão, mang hia.

    Lý Thánh Tông cũng là một vị nhân quân, đời người trị nước thì nhà nước được
    cường thịnh.
    4. Lý Nhân Tông , 1072 – 1128, 56 năm. Đời này có giặc Trung nguyên, Chàm, Chân
    lạp. Vua sai Lý Thường Kiệt cầm binh đánh thắng binh Tầu mà bắt được 40.00. Lý
    Nhân Tông dạy thích tự tự tha mà về nước hết. Triều nhà Tống cảm ân đức vua, bèn
    rút binh về Trung nguyên.
    Đời này chuộng việc học hành, có mở khoa thi chọn người thông minh để mà giúp
    nước, vua lập Hàn lâm viện, sai sứ qua Tầu mua kiếm sách vở, định quan chức văn
    võ, phân làm 9 phẩm, dạy đắp bờ đê mà ngừa lụt sông Nhị hà.
    Lý Nhân Tông không con, truyền ngôi lại cho cháu. Lúc này binh Kim xâm lược
    Trung nguyên, bắt vua Khâm Tông và Huy Tông, qua đời Nam Tống (Cao Tông)
    5. Lý Thần Tông. 1128 – 1138, 10 năm. Lý Thần Tông lên ngôi, đại xá cho tù phạm và
    hạ chỉ cho binh lính nghỉ thay phiên mỗi năm 6 tháng mà giúp việc canh nông. Vua lại
    cấm trong hàng các quan văn võ, không đặng gả con, trước khi triều đình tuyển cung
    nữ.
    6. Lý Anh Tông, 1138 – 1175, 37 năm. Thiên Tộ là con vua Thần Tong, mới lên ba
    tuổi, lên ngôi hiệu là Anh Tông. Bà hoàng thái hậu cầm quyền nhiếp chính. Đời này
    thực là đời thịnh trị, các xứ lân bang như Chiêm thành, Chân lạp cùng các mán Mọi,
    thẩy đều kiêng oai vua, không dám cử động. Năm 1148 có tầu buồn nước Xiêm, nước
    Miến điện (Birmanie) đến An Nam, vua hạ chiếu cho lập phố phương nơi Vạn ninh
    (tỉnh Quảng yên).
    Năm 1169, triều Tống triều Kim sai sứ qua nước Nam, vua trọng đãi cùng ban cho
    vàng bạc rất nhiều, nhưng mà không tỏ ý thuận bên nào, vì Tống với Kim còn đang
    chinh chiến với nhau.
    Năm 1174, nhà Tống sai qua mua voi để mà tế lễ, Anh Tông bèn dùng 15 thớt, dạy sứ
    đem qua tới đế đô. Vua nhà Tống cầm sứ ở lại xem phong cảnh Trung nguyên, rồi

    phong chức tước mà đưa về.
    Vua thường ngự giá tuần vãng khắp nước, đi đường bộ rồi lại đi đường thủy. Lúc trở
    về vua dạy vẽ họa đồ nước Nam. Anh Tông băng hà năm 1175, con thứ là Long Cán
    lên kế vị.
    7. Lý Cao Tông 1175 – 1211, 36 năm. Vua này lên ngôi thủa 3 tuổi. Bà hoàng thái hậu
    muốn lập Long Xưởng là là trưởng tử, nhưng mà triều đình không dám cải lời di chiếu
    của tiên đế.
    Lúc này Trung nguyên sai sứ qua đem sắc phong cho vua, vua nước Cao miên, Chiêm
    thành cũng đến mà triều bái.
    Vua Cao Tông lên cầm quyền không hay lo việc triều chính, cứ tu tạo cung điện, đánh
    thuế cao, bắt xâu nặng. Trong khi thì bán chức tước, ngoài quận thì bá tính bị quan
    tham ô hà hiếp. Loạn lạc nổi lên, vua và thái tử Sam phải lánh mình, sau nhờ có người
    Trần Lý giúp sức và gả con cho, nên Cao Tông mới phục nghiệp lại được.
    8. Lý Huệ Tông, 1211 – 1225, 14 năm. Cao Tông phục nghiệp lại được chưa đầy một
    năm thì băng hà, truyền ngôi lại cho thái tử Sam, là Huệ Tông.
    Đợi Lý hầu mất, nước nhà ngày càng tồi bại, Huệ Tông mang chứng điên cuồng,
    không dự triều chính được, mọi việc đều phó cho Trần Thủ Độ hết.
    Vua có 2 người con gái, người thứ 2 gả cho Trần Liễu, còn người em là Phật Kim mới
    lên 7 tuổi. Năm 1224, vua nhường ngôi cho Phật Kim, rồi vào chùa mà ở.
    9. Lý Chiêu Hoang, 1224 – 1225, 1 năm. Công chúa Phật Kim lên ngôi, hiệu là Lý
    Chiêu Hoàng. Trần Thủ Độ ý muốn thâu tóm giang sơn nhà Lý, bèn lập mưu đưa
    Trần Cảnh là cháu vào ăn ở với công chúa, được nhường ngôi, lập nên nhà Trần.
    V. Nhà Trần
    13 đời vua trị 175 năm, 1225 – 1400

    1. Trần Thái Tông, 1225 – 1258, 33 năm. Trần Cảnh lên ngôi, hiệu là Trần Thái Tông,
    khi ấy mới có 8 tuổi, còn Lý Chiêu Hoàng mới có được 7 tuổi. Trần Thủ Độ oai thế
    lẫy lừng, toan dứt nhà Lý, nên làm khổ khắc Lý Huệ Tông, cho đến nỗi vua phải tự
    vẫn trong chùa. Sau Trần Thủ Độ lại tư thông với bà hoàng thái hậu. Thái Tông ở với
    Lý Chiêu Hoàng đã lâu mà không có con. Trần Thủ Độ bắt ép vợ người Trần Liễu là
    anh Thái Tông, đã có thai ban tháng, đem gả cho Thái Tông, rồi phế Lý Chiêu Hoàng
    xuống làm cong chúa. Vua thấy chú mình làm trái luân thường đạo lý như thế, thì bất
    bình, bèn vào chùa mà ở. Đình thần can giám lắm, vua mới chiu về.
    Thái Tông lên cầm quyền binh chính, nhờ có tôi hiền, nên nước nhà thịnh trị. Vua lo
    mở mang việc giáo huấn, khai khoa tiến sĩ. Năm 1247 có hai người đậu đầu: Nguyễn
    Hiền và Lê Văn Hưu sau phụng chỉ soạn sử nước Nam từ Triệu Võ Đế tới Lý Chiêu
    Hoàng. Có sử ký An Nam là từ đời này.
    Năm 1241, dân Chiêm thành khởi loạn, lấn bờ cõi nước Nam, vua thân chinh, bắt
    được hoàng hậu và binh Chàm đem về xứ.
    Năm 1258, nhà Nguyên (Mông cổ) hạ nhà Kim diệt nhà Tống, lên làm vua Trung
    quốc (1280 – 1333), Nguyên thế tổ là Hốt Tất Liệt (Koubilai) xâm phạm biên giới
    nước Nam. Vua Thái Tông đem binh chống cự, được trận thắng. Sau nghĩ vì nước
    mình nhỏ, không lẽ kình địch nỏi binh Mông cổ vua bèn sai sứ qua triều nhà Nguyên
    xin 3 năm sang cống một lần.
    Năm 1528, Thái Tông nhường ngôi lại cho con tên là khoán.
    2. Trần Thánh Tông, 1258 – 1279, 21 năm. Khoán lên ngôi, hiệu là Thánh Tông. Đời
    này thật là đời bình trị, trong chiều ngoài quận đều yên như bàn thạch. Nghề nghiệp
    văn võ càng ngày càng thanh thế, các đấng anh tài chen nhau đến phò vua giúp nước.
    Ông Lên Văn Hưu tụ thành bộ Đại Việt sử ký, vua cho hạ chỉ cho các nhà học hiệu
    phải đọc lấy cho biết sự tích nước An Nam.
    Năm 1261, Trần Thủ Độ mãn phần. Vua Thánh Tông trị định 21 năm, rồi nhường

    ngôi lại cho con là Khâm.
    3. Trần Nhân Tông. 1279 – 1293, 14 năm. Khâm lên kế hiệu là Nhân Tông. Nguyên
    Thế Tổ sai sứ đòi vua qua triều bái. Nhân Tông không chịu đi, Nguyên thế tổ hạ chỉ
    cho đại tướng Ô ma Nhĩ câm binh qua đánh An Nam (1282). Ba năm trường, hai bên
    cầm cự, binh Nguyên chết cũng nhiều, mà không đổ. Sau rốt, vua Nhân Tông khuyến
    dụ quân sĩ cùng bá tính, thảy đều nỗ lực đanh lui binh Nguyên, bắt được Ô Mã Nhi và
    nhiều tướng khác. Nhân Tông muốn cầu hòa, bèn dậy thay hệt về Trung quốc. Còn Ô
    Mã Nhi thì cầm lại, rồi sai đưa về đường biển. Thuyên ra khơi được ít ngày, bị dông
    bão chìm mất (Nguyên Ô Mã Nhi là người hung bạo, lúc cầm binh thì chém giết người
    Nam rất nhiều nên vua Nhân Tông dụng kế hại cho nó chết, mà triều Nguyên không
    trách được).
    Mười năm sau (1292), Nguyên thế tổ sai sứ qua triệu Nhân Tông một lần nữa cũng
    không chịu đi, Nguyên thế tổ khởi binh, cách ít lâu thì băng hà.
    4. Trần Anh Tông, 1293 – 1314, 21 năm. Nhân Tông truyền ngôi lại cho con là
    Thuyên (Anh Tông). Các đời vua trước hay xâm hình rồng nơi bắp chân, vua Anh
    Tong không chịu theo thói ấy, nên từ đây bỏ tục xăm mình.
    Năm 1305, Anh Tông đưa công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm thành là Chế Mân.
    Chế Mân dâng hai tỉnh Ô và Rí cho An Nam, sau cải lại là Thuận châu và Hóa châu.
    Đời chúa Nguyễn kêu là Thuận Hóa.
    Vua Chế Mân băng, Chế Chi lên kế vị, cử binh đánh lấy hai tỉnh Ô và Rí lại. Anh
    Tông bắt được Chế Chi, phế đi mà lập người em lên từ đây giặc Chiêm thành mới yên.
    Năm 1314 vua nhường ngôi lại cho con là Minh, sống được 6 năm nữa rồi băng hà.
    5. Trần Minh Tông 1314 -1329, 15 năm. Đời này không có giặc giã. Vua dùng lúc thái
    bình mà sửa sang việc quốc chính cùng việc binh nhung. Mộ lính thì chọn những
    người mạnh mẽ, cao cho đúng thức lệ, vua dậy trong hàng binh sĩ phải bỏ tục xăm
    mình, vua lại cấm bá tính, hễ bà con không được kiện cáo nhau.Vua giảm bớt số quan

    viên và canh cải hàng phẩm lại.
    6. Trần Hiến Tông 1329 – 1341. 12 năm. Vua này tên là Vượng, vốn là con dòng thứ
    (do hoàng hậu không có con). Đời Hiến Tông có giặc Ai lao và giặc Mọi (1337). Vua
    cứ binh dẹp yên, bắt mỗi năm phải triều cống.
    Hiến Tông băng, truyền ngôi lại cho em là Cảo.
    7. Trần Dụ Tông 1341 – 1369, 28 năm. Đời vua này trong nước có nhiều tai họa, hạn
    hán, bão lụt,cào cào, lại thêm trộm cướp nổi lên. Ngoài biên cương mọi Ai lao, Chàm
    khởi loạn, cướp phá dưới sông rạch và dọc theo gành bãi, bắt những nghe thương hồ
    mà đoạt của. Vua thân chinh trừ khử mấy năm mới bình phục được.
    Đời Dụ Tông, bên Trung quốc nhà Nguyên dứt, nhà Minh dậy, vua Hồng Võ (Minh
    Thái Tổ) lên ngôi 1368.
    8. Trần Nghệ Tông 1370 – 1373, 3 năm. Dũ Tông băng, không con kế vị. Bà hoàng
    thái hậu muốn lập cháu vua Hiến Tông. Phủ là em vua Dũ Tông khởi loạn tranh ngôi,
    lên tức hiệu là Nghệ ...
     
    Gửi ý kiến

    “Sách là thuốc bổ tinh thần”, “Siêng xem sách và xem nhiều sách là việc đáng quý”

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC & THCS 15/10/ VÂN SƠN - SƠN LA!