BẢN TIN THƯ VIỆN

TÀI NGUYÊN SỐ

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Ảnh ngẫu nhiên

Picture3.png TiengViet4KetnoiTuan29Bai20Tiet12ChieungoaioTrang93.jpg TiengViet4KetnoiTuan3Bai6Tiet4NoivangheKechuyenBonanhtaiTrang29.jpg Toan5KetnoiBai1OntapsotunhienTiet1trang6.jpg Screenshot_1309.png

HOẠT ĐỘNG TIẾT HỌC TIẾT ĐỌC THƯ VIỆN THCS

TỦ SÁCH VẠN ĐIỀU HAY

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • 💕💕 Nếu sách là ngọn đuốc soi đường, thì học liệu số là cả mặt trời tri thức.💕💕Học liệu số không chỉ là sách điện tử, mà là cánh cửa mở ra tri thức vô hạn.💕💕

    Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam

    Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam

    hay-tra-loi-em-tai-sao-tap-06

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
    Ngày gửi: 08h:24' 05-03-2024
    Dung lượng: 2.7 MB
    Số lượt tải: 2
    Số lượt thích: 0 người
    Biểu ghi biên mục trước xuất bản được thực hiện bởi Thư viện KHTH TP.HCM

    Hãy trả lời em tại sao?. T.6 / Phạm Hồng Hải, Nguyễn Kim Lâm d. - T.P. Hồ Chí Minh:
    Trẻ, 2009.
    180tr. ; 19cm.
    1. Khoa học thường thức. 2. Hỏi và đáp. I. Phạm Hồng Hải, Nguyễn Kim Lâm d.
    001 -- dc 22
    H412

    Phạm Hồng Hải - Nguyễn Kim Lân dịch

    4

    Chương 1

    Trái đất,
    ngôi nhà của chúng ta
    Trái đất là một hành tinh rất nhỏ trong vũ trụ, và cái
    hành tinh nhỏ xíu đó chính là ngôi nhà của chúng ta. Con
    người nghiên cứu trái đất một cách toàn diện, lợi dụng nó
    để “cống hiến” ngày càng nhiều hơn cho con người.

    1

    Có bao nhiêu thành viên trong
    dòng tộc mặt trời?

    Trong không gian có vô số vì sao, những vì sao ấy đều
    chuyển động không ngừng. Những vì sao chuyển động hút
    nhau, quay quanh nhau, như thế sẽ hình thành hàng ngàn,
    hàng vạn dòng tộc độc lập, các nhà thiên văn gọi những
    dòng tộc đó là hệ thống thiên thể. Dòng tộc mặt trời là
    một trong số hàng ngàn hàng vạn dòng tộc trong bầu trời.
    Trong dòng tộc mặt trời lấy mặt trời làm trung tâm,
    thành viên chủ yếu còn có hành tinh, vệ tinh cùng với sao
    băng và sao chổi...

    5

    Mặt trời lớn vô cùng, tương đương với thể tích của một
    triệu ba trăm ngàn trái đất cộng lại. Mặt trời cũng rất nặng,
    theo tính toán của các nhà khoa học, khi trọng lượng chung
    của dòng tộc mặt trời là 1000, thì trọng lượng của bản thân
    mặt trời là 999; có nghĩa là tổng trọng lượng của tất cả các
    thành viên ngoài mặt trời ra mới chỉ là 1. Mặt trời lại là một
    quả cầu lửa khổng lồ, lúc nào cũng nóng cháy. Nhiệt độ
    bề mặt của nó vào khoảng 6000C, nhiệt độ trung tâm có
    thể đạt tới 15 triệu độ trở lên. Dòng khí bốc lên mãnh liệt
    làm cho ngọn lửa lớp vỏ mặt trời xuất hiện dạng răng cưa.
    Hành tinh là những ngôi sao chuyển động chung quanh
    mặt trời, thể tích rất nhỏ, nói chung không phát quang, được
    ánh sáng mặt trời chiếu sáng và cung cấp nhiệt lượng.
    Dòng tộc mặt trời ngoài mặt trời ra còn có 9 hành tinh
    lớn, theo thứ tự từ gần đến xa so với khoảng cách của mặt
    trời, đó là: sao Thủy, sao Kim, Trái đất, sao Hỏa, sao Mộc, sao
    Thổ, sao Thiên Vương, sao Hải Vương và sao Minh Vương
    (thường gọi là sao Diêm Vương - Pluto). Tuy vậy, các nhà
    thiên văn học sau một hồi nghiên cứu thì đến năm 2006
    đã kết luận rằng sao Minh Vương chỉ là một “hành tinh lùn”.
    Trái đất là một trong những thành viên lớn của dòng tộc
    mặt trời, cách mặt trời tương đối gần, được mặt trời chiếu
    sáng, được mặt trời cung cấp nhiệt lượng cũng tương đối
    nhiều. Ở giữa quỹ đạo quay của sao Hỏa và sao Mộc còn
    có hàng ngàn hàng vạn tiểu hành tinh.
    Vệ tinh là những ngôi sao quay chung quanh các hành
    6

    tinh; mặt trăng là vệ tinh quay chung quanh trái đất, gọi
    là vệ tinh của trái đất. Mặt trăng tỏa sáng được là nhờ ánh
    sáng của mặt trời phản chiếu. Vệ tinh trong dòng tộc mặt
    trời có đến hơn 100 cái.
    Sao băng là những khối nhỏ thể rắn đi vào lớp khí quyển
    của trái đất, do ma sát bốc cháy phát ra ánh sáng. Những
    tinh thể không cháy hết rơi xuống mặt đất được gọi là
    vẫn thạch.
    Sao chổi là hành tinh càng nhỏ, nó kéo theo một cái
    đuôi lớn hình thù giống như cái chổi rất dài, rất dài, tục
    gọi là sao chổi. Sao chổi Halley nổi tiếng quay quanh mặt
    trời một vòng mất 76 năm.

    7

    2

    Quả địa cầu có công dụng gì?

    Chúng ta có thể dùng giấy các tông làm một quả cầu
    tròn tiêu biểu cho trái đất, trên bề mặt của mô hình, các
    lục địa được tô màu vàng hoặc màu xanh nhạt và các đại
    dương tô màu xanh dương, rồi vẽ các quốc gia. Trên quả
    cầu tròn đó, ta xuyên vào một các trục, cố định hai đầu
    trục lên một cái giá đỡ có thể quay được, đó là quả địa cầu.
    Chúng ta quan sát thật cẩn thận các ký hiệu, vị trí tương
    đối trên quả địa cầu, nó có thể chỉ dạy cho ta rất nhiều tri
    thức. Bản thân địa cầu quay từ Tây sang Đông. Trong quá
    trình quay, luôn luôn có hai điểm cố định. Đó là hai điểm
    cực. Điểm chỉ về ngôi sao bắc cực là điểm Bắc cực, ngược
    lại điểm dưới Bắc cực là điểm Nam cực. Có thể làm một thí
    nghiệm nhỏ, đặt một quả cầu da nhỏ lên mặt bàn nhẵn
    bóng, cho quả cầu da quay tít, luôn luôn ta nhìn thấy có
    một điểm bất động. Cho nên trục quả địa cầu phải đi qua
    hai điểm cực Nam, Bắc, điểm Bắc cực quay lên trên.
    Trên quả địa cầu còn có tuyến ngang và tuyến dọc, tuyến
    dọc nối điểm hai cực gọi là kinh tuyến; kinh tuyến đi qua
    địa điểm đặt đài thiên văn Greenwich nước Anh là tuyến
    0 độ, sang hướng Đông và hướng Tây mỗi bên 180 độ,
    trùng hợp với mặt sau tuyến 0 độ. Tuyến ngang vuông góc
    với kinh tuyến là vĩ tuyến, vòng vĩ tuyến lớn nhất là xích
    đạo, xác định là 0 độ. Vòng vĩ tuyến từ 0 độ xích đạo càng
    8

    hướng về hai cực càng
    nhỏ dần, điểm hai cực
    xác định là vĩ độ 90 độ.
    Trên quả địa cầu, kinh
    tuyến và vĩ tuyến giao
    nhau tạo thành tọa độ
    kinh vĩ tuyến. Căn cứ
    và tọa độ kinh vĩ có
    thể xác định được vị trí chính xác của bất cứ một điểm
    nào trên trái đất.
    Mặt xích đạo chia địa cầu thành Nam bán cầu và Bắc
    bán cầu. Về tập quán, căn cứ vào vòng kinh tuyến 20 độ
    kinh Tây và 160 độ kinh Đông chia địa cầu ra thành Đông,
    Tây bán cầu.
    Bạn có để ý thấy gì không? Trục trên quả địa cầu không
    phải thẳng đứng đâu nhé, nó nghiêng đấy. Vì rằng trái đất
    trong quá trình quay của mình, giữa mặt quỹ đạo của trái
    đất quay chung quanh mặt trời và địa trục có một góc
    chếch 66,5 độ, cho nên trục trái đất nghiêng.
    Chúng ta thường nhìn thấy địa đồ đều vẽ trên giấy, quả
    địa cầu tức là địa đồ vẽ trên cầu tròn. Quả địa cầu cũng
    quay như trái đất vậy, thầy cô giáo dùng quả địa cầu để
    dạy học, nhờ đó chúng ta hiểu được tương đối dễ dàng rất
    nhiều tri thức địa lí, như ngày và đêm, sự nóng lạnh trên
    các vĩ độ khác nhau, vị trí của các đại dương và lục địa v.v...

    9

    3

    Trái đất có hình dáng
    giống như thế nào?

    Nếu như chúng ta ngồi trên phi thuyền vũ trụ nhìn xuống
    trái đất ở độ cao mấy vạn, mấy chục vạn kilômét, sẽ thấy
    hình dáng trái đất như thế nào? Chỉ nhìn thấy dạng ngôi
    sao hình tròn treo lơ lửng trong không trung, bên trên có
    biển màu xanh dương và mây màu trắng. Trong trường
    hợp không bị áng mây nào che khuất, có thể nhìn thấy
    lằn ranh giữa biển và lục địa trên trái đất. Khi quỹ đạo vận
    hành của phi thuyền đi gần trái đất, giữa ban ngày quang
    đãng, có thể nhìn thấy rất rõ Kim Tự Tháp của Ai Cập cổ.
    Nhờ vệ tinh nhân tạo hay phi thuyền vũ trụ mà chúng
    ta có rất nhiều bức ảnh về trái đất. Nhìn qua các bức ảnh.
    Trái đất là một khối cầu. Qua kết quả tính toán của các
    nhà khoa học, trái đất không phải là một quả cầu tròn tròn

    3

    (a) 1. Địa tâm 2. Bắc cực 3. Nam cực 4. Xích đạo 5. 6378km
    (b) 1. Bắc cực 2. Nam cực

    10

    trịa, nó là một khối hơi tròn có hai cực hơi rút ngắn, bán
    kính xích đạo hơi dài ra. Nói cụ thể là bán kính xích đạo
    dài hơn bán kính cực 21 kilômét. Nhưng bán kính Nam
    Bắc cực cũng không phải là dài như nhau, bán kính Bắc
    cực dài hơn bán kính Nam cực là 40mét. Cho nên, trái đất
    là một khối tròn có hai cực hơi dẹt, xích đạo hơi gồ lên
    giống như một quả lê.
    Trái đất bao lớn? Nếu như đi vòng quanh trái đất một
    vòng lớn có 40 ngàn cây số. Nếu như một người mỗi ngày đi
    50 kilômét, phải 800 ngày mới có thể đi hết một vòng lớn.
    Diện tích bề mặt trái đất cũng rất lớn: 510 triệu kilômét
    vuông.
    Bề mặt trái đất chủ yếu bị đại dương bao bọc, diện tích
    361 triệu kilômét vuông, chiếm 71% diện tích bề mặt trái
    đất. Diện tích lục địa của bề mặt trái đất là 149 triệu kilômét vuông, chiếm 29% diện tích bề mặt trái đất. Lục địa
    chủ yếu phân bố ở Bắc bán cầu, ở phía Bắc xích đạo, đại
    dương chủ yếu phân bố ở Nam bán cầu, phía Nam xích đạo.

    4

    Trái đất quay như thế nào?

    Bạn có biết là trái đất đang quay không? Chỉ cần để
    tâm quan sát một số hiện tượng là sẽ chứng minh được
    trái đất thực sự đang quay. Hàng ngày chúng ta đều nhìn
    thấy mặt trời mọc từ hướng Đông và lặn về hướng Tây,
    11

    đó là kết quả sự quay của trái đất. Giả dụ trái đất không
    quay, mặt trời sẽ chiếu sáng mãi ở một mặt trái đất, mặt
    được chiếu sáng luôn luôn là ban ngày rất nóng, mặt kia
    là ban đêm rất lạnh.
    Tại sao chúng ta lại không cảm thấy trái đất quay? Bây
    giờ hãy thử làm một thí nghiệm nhỏ: Chúng ta ở trong
    một chiếc xe bịt kín hay trong tàu thủy, chỉ cần xe và tàu
    chạy rất êm, chúng ta sẽ cảm thấy không động đậy. Khi
    chúng ta mở toang cửa sổ xe hay tàu thủy ra, sẽ thấy cảnh
    vật ở bên ngoài cửa sổ chạy lui về phía sau, khi xe và tàu
    chạy càng nhanh, cảnh vật ngoài cửa sổ chạy lui về phía
    sau càng nhanh hơn.
    Chúng ta sống ở trên trái đất, vì trái đất có sức hút, trái
    đất hút chặt chúng ta trên mặt đất. Ngoài ra, trái đất là một
    12

    khối tròn rất lớn, chuyển động lại rất chậm, rất êm, lẽ tất
    nhiên chúng ta sẽ không cảm thấy trái đất quay.
    Do sức hút của trái đất rất lớn lại quay rất chậm và êm,
    ở trên nhà cao ta không cảm thấy lúc lắc; cũng vậy, những
    thứ như bàn, ghế, tủ lạnh ở trong phòng luôn luôn được
    đặt ổn định, không hề nhúc nhích gì cả.
    Vì những lí do như vậy mà con người mới có thể sản
    xuất và sinh hoạt bình thường, máy móc vận hành bình
    thường, máy cày cày đúng giờ giấc, cưỡi xe đạp đi làm bảo
    đảm thời gian, người đi đường không bị té ngã.

    5

    Tại sao có ban ngày và ban đêm?

    Để nói rõ tại sao có ban ngày và ban đêm, trước hết
    chúng ta hãy làm một thực nghiệm nho nhỏ. Bạn chuẩn
    bị cho một cái đèn pin làm mặt trời, một quả bóng da làm
    trái đất. Cho quả bóng da quay tít, mặt quả bóng da quay
    về phía ánh sáng đèn pin thì sáng, ấy là “ban ngày”, mặt
    bên kia ánh sáng đèn pin không rọi được là đêm tối. Quả
    cầu da tiếp tục quay, ở mặt ánh sáng đèn pin không rọi
    được lúc đầu sẽ quay về phía trước, trở thành ban ngày
    và được rọi sáng; còn bề mặt được rọi ánh sáng lúc đầu
    quay về phía sau trở thành “ban đêm” không được rọi ánh
    sáng. Vị trí của ánh sáng đèn pin không thay đổi, quả cầu
    da cứ tiếp tục quay, sẽ xuất hiện hiện tượng ban ngày và
    ban đêm không ngừng đan xen nhau.
    13

    Trái đất là một khối tròn rất lớn, quay không ngừng, tự
    nó không phát ra ánh sáng. Khi Đông bán cầu quay về phía
    mặt trời, được ánh sáng mặt trời chiếu sáng là ban ngày. Tây
    bán cầu do ở về phía sau mặt trời, không được ánh sáng
    mặt trời chiếu sáng, tức là ban đêm. Trái đất không ngừng
    quay, quay mãi nên ban ngày, ban đêm không ngừng thay
    thế cho nhau.
    Phía mặt trời mọc là hướng Đông, phía mặt trời lặn là
    hướng Tây, phía chỉ về phía sao Bắc Đẩu là hướng Bắc, phía
    đối diện với sao Bắc Đẩu là hướng Nam. Trái đất không ngừng
    quay quanh trục trái đất theo hướng từ Tây sang Đông, quay
    một vòng mất 24 tiếng đồng hồ, là một ngày. Thí dụ hôm
    nay mặt trời chiếu sáng đúng ngay chỗ chúng ta ở, là đúng
    12 giờ trưa ban ngày, qua ngày hôm sau khi mặt trời chiếu
    sáng ngay đúng chúng ta, vẫn là 12 giờ trưa ban ngày, thời
    gian đi qua giữa khoảng thời gian đó là 24 tiếng đồng hồ.
    Bắc cực
    Ánh
    sáng
    mặt
    trời
    Nam cực

    14

    Do thời gian cần thiết cho sự thay đổi giữa ban ngày và
    ban đêm tương đối ngắn, nên mặt đất được tăng nhiệt ban
    ngày không nóng lắm và ban đêm cũng không đến nỗi lạnh
    lắm. Có vậy con người, muông thú, cỏ cây mới sống nổi.

    6

    Bốn mùa trong năm phân chia
    và thay đổi như thế nào?

    Trái đất là một trong những thành viên lớn của dòng
    tộc mặt trời, không những nó tự quay quanh mình nó,
    mà nó còn quay quanh mặt trời. Trái đất quanh quanh
    mặt trời một vòng mất 365 ngày 6 giờ, do đó, bình thường
    một năm là 365 ngày. Đến năm thứ tư vừa đúng 365 ngày
    hãy còn 24 tiếng đồng hồ, thực tế là năm thứ tư phải tăng
    thêm một ngày, là 366 ngày, năm đó là năm nhuận.
    Khi trái đất quay quanh mặt trời, hướng chếch của trục
    trái đất không thay đổi, cực Bắc của trục trái đất luôn luôn
    chỉ về hướng sao Bắc Đẩu. Trong một năm, tùy theo vị trí
    quay của trái đất khác nhau, vị trí của điểm chiếu sáng
    thẳng đứng của mặt trời cũng thay đổi một cách có quy
    luật, các nơi trên trái đất tiếp thu nhiệt của ánh sáng mặt
    trời cũng theo đó mà thay đổi nhiều ít khác nhau. Do đó,
    cũng một địa phương trên trái đất nhưng trong năm có
    hiện tượng lạnh và nóng thay đổi cho nhau.

    15

    Xuân phân 21/3
    Quỹ đạo của trái đất

    Hướng quay

    Đông chí
    22/12

    Hạ chí
    22/6

    Hướng quay

    Quỹ đạo của trái đất
    Thu phân 23/9

    Bốn mùa trong năm phân chia như thế nào và bốn mùa
    thay đổi như thế nào?
    Trước và sau ngày 22 tháng 6 hằng năm là tiết Hạ chí,
    mặt trời chiếu thẳng xuống Bắc bán cầu, Bắc bán cầu nhận
    nhiệt ánh sáng mặt trời nhiều, khí hậu oi bức, là mùa Hạ.
    Nam bán cầu nhận nhiệt ánh sáng mặt trời ít, khí hậu lạnh,
    là mùa Đông.
    Trước và sau ngày 21 tháng 3 hàng năm là tiết Xuân
    phân, mặt trời chiếu thẳng trên xích đạo, Nam bán cầu và
    Bắc bán cầu tiếp nhận nhiệt ánh sáng mặt trời như nhau,
    Bắc bán cầu là mùa Xuân ôn hòa, Nam bán cầu là mùa Thu
    mát dịu. Trước và sau 23 tháng 9 là tiết Thu phân, mặt trời
    cũng chiếu thẳng trên xích đạo, Bắc bán cầu là mùa Thu
    mát dịu, Nam bán cầu là mùa Xuân ôn hòa.

    16

    7

    Tại sao có ngày cực
    và đêm cực?

    Vì trái đất vừa quay chung quanh trục của bản thân nó,
    lại vừa quay chung quanh mặt trời theo một hướng chếch
    không thay đổi, do đó ngày và đêm của các vĩ độ trên trái
    đất cũng dài ngắn khác nhau tùy theo mùa. Hàng năm chỉ
    có hai ngày 21 tháng 3 (ngày Xuân phân) và ngày 23 tháng
    9 (ngày Thu phân), mặt trời chiếu thẳng đứng trên xích đạo,
    nên ngày và đêm của tất cả các nơi trên toàn cầu đều dài
    ngắn như nhau, đúng 12 tiếng đồng hồ.
    Trong nửa năm từ ngày 21 tháng 3 đến ngày 23 tháng
    9, mặt trời chiếu thẳng Bắc bán cầu, là nửa năm Hạ. Trong
    nửa năm Hạ đó, các vĩ độ Bắc bán cầu đều là ngày dài
    đêm ngắn. Do xích đạo hướng Bắc cực, thời gian ban ngày
    càng dài tùy theo sự tăng cao của vĩ độ, thời gian ban đêm
    ngắn dần. Ngày 22 tháng 6 (ngày Hạ chí), mặt trời chiếu
    thẳng tới giới hạn tận cùng phía Bắc là 23,5 độ vĩ Bắc, khu
    vực Bắc cực ở về phía Bắc 66,5 độ vĩ Bắc suốt ngày mặt
    trời không lặn, chỉ có ban ngày, không có ban đêm, hiện
    tượng này được gọi là ngày cực. Nam bán cầu thì ngược
    lại hoàn toàn, do xích đạo hướng Nam cực, tùy theo vĩ độ
    tăng cao, thời gian ban ngày ngắn lại, thời gian ban đêm
    dài ra. Ngày Hạ chí, khu vực Nam cực ở 66,5 độ vĩ Nam trở
    về phía Nam suốt ngày là ban đêm, không có ban ngày,

    17

    Bắc cực

    Ánh sáng
    mặt trời

    Bắc cực

    Nam cực
    22/6 (ngày Hạ chí
    Bắc bán cầu)

    22/12 (ngày Đông
    chí Bắc bán cầu)

    hiện tượng này được gọi là đêm cực. Nam bán cầu là nửa
    năm mùa Đông.
    Trong nửa năm từ 23 tháng 9 đến 23 tháng 3 năm sau,
    mặt trời chiếu thẳng Nam bán cầu, là nửa năm Hạ. Trong
    nửa năm này, các vĩ độ Nam bán cầu ngày đều dài và đêm
    ngắn lại. Ngày 22 tháng 12, mặt trời chiếu thẳng tới giới
    hạn tận cùng phía Nam là 23,5 độ vĩ Nam, phạm vi mặt trời
    không lặn ở khu vực phía Nam cực lớn nhất, ở về phía Nam
    66,5 độ vĩ Nam xuất hiện hiện tượng ngày cực chỉ có ban
    ngày, không có ban đêm. Bắc bán cầu thì hoàn toàn ngược
    lại, khu vực Bắc cực ở 66,5 độ vĩ Bắc trở ra Bắc là đêm, suốt
    ngày không có mặt trời, xuất hiện hiện tượng đêm cực,
    không có ban ngày. Bắc bán cầu là nửa năm mùa Đông.

    18

    8

    Năm vùng trên trái đất
    được phân chia như thế nào?

    Năm vùng trên trái đất là: nhiệt đới, Bắc ôn đới, Nam ôn
    đới, Bắc hàn đới và Nam hàn đới. Người ta phân chia bằng
    cách căn cứ vào sự tiếp nhận nhiệt lượng mặt trời nhiều ít
    khác nhau ở các bộ phận trên trái đất. Ranh giới của năm
    vùng trên trái đất được phân định như thế nào?
    a. Nhiệt đới: ở giữa 23,5 độ vĩ Bắc là vùng duy nhất trên
    trái đất có thể tiếp nhận được ánh sáng mặt trời chiếu thẳng,
    được mặt trời cung cấp nhiệt lượng nhiều nhất, cũng là
    vùng nóng nhất toàn cầu, chúng ta gọi nó là vùng nhiệt đới.
    b. Hàn đới: ở về phía Bắc 66,5 độ vĩ Bắc đến điểm cực
    Bắc, ở phía Nam 66,5 độ vĩ Nam cho đến điểm cực Nam,
    hai vùng này hàng năm có một quãng thời gian là đêm
    dài triền miên, tức là ngày có mặt trời chiếu rọi nhưng do
    ánh sáng mặt trời chiếu chếch rất lớn, mặt đất tiếp nhận
    nhiệt lượng rất ít, hầu như không đáng kể, khí hậu suốt
    năm rét buốt, chúng ta gọi là vùng hàn đới. Vùng hàn đới
    của Bắc bán cầu gọi là Bắc hàn đới, vùng hàn đới của Nam
    bán cầu gọi là Nam hàn đới.
    c. Ôn đới: 23,5 độ đến 66,5 độ vĩ Bắc, 23,5 độ đến 66,5
    độ vĩ Nam, hai vùng này tiếp nhận nhiệt lượng của mặt
    trời ít hơn so với vùng nhiệt đới, nhiều hơn vùng hàn đới,
    gọi chúng là ôn đới. Ôn đới của Bắc bán cầu gọi là Bắc ôn
    đới, ôn đới của Nam bán cầu gọi là Nam ôn đới.
    19

    Người ta quen gọi vĩ tuyến 23,5 độ vĩ độ Nam, Bắc là
    chí tuyến Nam, Bắc, khi mặt trời chiếu thẳng đến tuyến
    này thì đi trở về, cho nên còn gọi là tuyến hồi quy. Gọi
    vĩ tuyến 66,5 độ vĩ độ Nam, Bắc là vòng cực Nam, Bắc, là
    ranh giới xuất hiện ở phạm vi lớn nhất hiện tượng ngày
    cực và đêm cực, là vòng tròn lấy điểm cực làm trung tâm,
    cho nên gọi nó là vòng cực.
    Chúng ta cũng có thể khái quát ranh giới của năm vùng
    như sau: chí tuyến Nam, Bắc là tuyến phân ranh nhiệt đới
    và ôn đới; vòng cực Nam, Bắc là tuyến phân ranh hàn đới
    và ôn đới.

    1. Ánh sáng mặt trời
    2. Nhiệt đới
    3. Ôn đới
    đới
    13. Chí tuyến bắc

    20

    5. Bắc cực
    6. Nam cực
    7. Ôn đới
    8. Bắc hàn đới
    14. Chí tuyến Nam

    9. Nhiệt đới
    10. Nam hàn đới
    11. Nam ôn đới 4. Hàn
    12. Xích đạo

    9

    Lòng trái đất được
    phân tầng như thế nào?

    Trái đất cũng giống như một quả trứng gà, có thể chia
    làm ba phần: “vỏ trứng”, “lòng trắng trứng” và “lòng đỏ”. Lớp
    mỏng ở bề mặt trái đất gọi là vỏ trái đất, lớp ở giữa gọi là
    lòng đất, lớp trong cùng là nhân trái đất.
    a. Vỏ trái đất: vỏ ngoài của lớp bề mặt trái đất có độ
    dày bình quân là 17 kilômét. Bề mặt trái đất có lục địa, đại
    dương, núi cao, bình nguyên... độ dày vỏ trái đất ở các nơi
    lại không giống nhau. Độ dày bình quân của lục địa là 33
    kilômét; vỏ trái đất ở đại dương mỏng nhất, chỉ 6 kilômét;
    độ dày ở khu vực cao nguyên núi cao là dày nhất, có thể
    tới 60-70 kilômét. Vỏ trái đất chủ yếu là lớp vỏ ngoài rắn
    chắc cấu thành bởi nham thạch cứng.
    b. Lòng đất: lớp giữa của trái đất, còn gọi là tầng trung
    gian. Độ sâu của lòng đất từ vỏ trái đất trở xuống là 2.900
    kilômét. Chủ yếu được cấu thành bởi nham thạch chứa sắt
    và manhê. Nhiệt độ của tầng này tăng cao, áp lực và mật
    độ tăng lớn, nham thạch tương đối mềm, bị chèn ép co
    bóp nên dễ dàng thay đổi hình dáng.
    c. Nhân trái đất: bộ phận trung tâm của trái đất giống
    như hạt của quả vậy. Do nhân trái đất cách bề mặt trái
    đất rất rất xa, nên không rõ hết mọi chi tiết của nó. Qua
    nghiên cứu rất nhiều năm, các nhà khoa học cho rằng bộ

    21

    phận trung tâm của trái
    Vỏ trái đất
    Lòng đất

    đất được cấu tạo bởi
    kim loại có trọng lượng
    nặng như sắt, niken và
    các chất khác. Do nhiệt
    độ rất cao, áp lực cực
    lớn nên các chất hợp

    Nhân trái đất

    thành nhân trái đất ở
    trạng thái lỏng. Nhân
    trái đất hiện nay vẫn

    còn là bí mật, trong tương lai nhất định các nhà khoa học
    sẽ khám phá ra điều bí mật ấy.
    Người ta có thể trực tiếp quan sát được đặc trưng của
    bộ phận ở ngoài của trái đất, còn không cách nào có thể
    trực tiếp nhìn thấy được bên trong của trái đất. giếng khoan
    sâu nhất của thế giới là 4.000-5.000 mét, so với trái đất thì
    quả là một lớp nhỏ rất rất mỏng mà thôi. Người ta sử dụng
    phương pháp gì để tìm hiểu kết cấu bên trong của trái đất?
    Phương pháp truyền sóng địa chấn nhân tạo. Tầng nham
    thạch, đặt trưng kết cấu khác nhau thì hình sin truyền dẫn
    khác nhau, rồi căn cứ vào đặc điểm hình sin để phán đoán
    đặc điểm bên trong của trái đất. Phương pháp này còn gián
    tiếp và tương đối sơ lược, muốn tìm hiểu tình hình cụ thể
    bên trong của trái đất, còn phải đợi các nhà khoa học “đi”
    sâu hơn nữa vào lòng trái đất.

    22

    10

    Lớp vòng của bề mặt
    trái đất ra sao?

    Trái đất cũng giống như một món đồ quý giá, bên ngoài
    được bao gói mấy lớp. Lớp vòng bao quanh bề mặt trái
    đất lần lượt từ ngoài vào trong là: khí quyển, vòng sinh vật,
    vòng nước và vòng nham thạch.
    a. Khí quyển: bề mặt trái đất bị bao bọc bởi một lớp vật
    chất ở trạng thái khí rất dày, giới hạn phần dưới của nó là
    bề mặt trái đất, giới hạn bên trên không có độ cao rõ rệt.
    Vòng khí quyển giống như một lớp chắn che phủ trái đất,
    giữ cho môi trường trái đất có một nhiệt độ thích nghi. Khí
    quyển được tụ tập ở bề mặt trái đất bởi tác dụng sức hút
    của trái đất nên càng lên cao không khí càng loãng. Thành
    phần không khí chủ yếu là nitơ và oxy, những thành viên
    khác trong dòng tộc mặt trời như sao Kim, sao Hỏa thì chủ
    yếu là carbonic, hầu như không có oxy.
    b. Vòng nước: bao gồm nước biển, nước sông, nước hồ,
    nước đầm, nước băng hà của bề mặt lục địa, dưới mặt đất
    còn có nước ngầm. Những thứ nước đó cũng giống như
    máu trong cơ thể con người, thông qua mặt đất liền với
    nhau thành một chỉnh thể, tạo thành vòng nước bao bọc
    lấy trái đất. Xã hội loài người không tách khỏi nước được,
    động thực vật sinh sống và phát triển cũng không tách rời
    khỏi nước. Nước là một trong những nhân tố tích cực nhất
    làm thay đổi bộ mặt trái đất.
    23

    c. Vòng nham thạch: chỉ lớp vỏ cứng thể rắn của trái đất,
    vòng nham thạch nhô lên khỏi vòng nước là lục địa thế
    giới, vòng nham thạch bị nước biển nhấn chìm là đáy biển
    thế giới. Vòng nham thạch cũng là một chỉnh thể, giống
    như lớp vỏ ngoài cứng của hạt đào, bao bọc lấy trái đất.
    d. Vòng sinh vật: khí quyển, vòng nước và vòng nham
    thạch trên trái đất độc lập với nhau, mỗi loại thành hệ
    thống, nhưng lại là một chỉnh thể thẩm thấu nhau và tác
    dụng lẫn nhau. Như vậy trái đất tạo môi trường cho sinh
    vật có thể sinh tồn và phát triển, thay đổi, như ánh sáng
    mặt trời, không khí, nước, đất, v.v... Toàn bộ những dải sinh
    vật này tồn tại ở trên vòng nham thạch, ở dưới vòng khí
    quyển và vòng nước, hình thành nên lớp vòng sinh vật
    độc lập liên tục.

    Khí quyển

    Vòng sinh vật
    Vòng nước

    Vòng nham thạch

    24

    Đại dương

    11

    Lục địa phân thành mấy khối?

    Khi chúng ta mở tấm bản đồ thế giới, trước hết chúng
    ta thấy diện tích đại dương rất lớn, diện tích lục địa nhỏ;
    nhìn kỹ ta thấy phần lớn lục địa phân bố ở Bắc bán cầu,
    Nam bán cầu rất nhỏ. Những lục địa ấy bị đại dương chia
    thành năm khối đại lục: khối đại lục Á-Âu, khối đại lục châu
    Phi, khối đại lục châu Mỹ, khối đại lục châu Đại dương và
    khối đại lục châu Nam cực.
    Khối đại lục Á-Âu ở Bắc bán cầu, là đại lục lớn nhất.
    Hình dáng của khối đại lục này giống như một cái quạt
    xòe, châu Á, châu Âu giống như một cái “góc” ở phần Tây
    Bắc trên cái quạt xòe.
    Khối đại lục châu Phi giống một cái lá cây đại thụ,
    trải bằng trên xích đạo, phía Bắc hơi rộng, phía Nam
    hẹp lại, tựa sát vào phía Tây Nam của đại lục châu
    Á-Âu, làm như Á-Âu không phải là một khối lục địa vậy.
    Khối đại lục châu Mỹ dài nhất, hai đầu đại lục lớn, ở giữa
    nối bằng một lục địa rất hẹp, rất giống một cái vòng lắc
    khổng lồ không quy tắc mấy. Khối đại lục phía Bắc là Bắc
    Mỹ châu, khối đại lục phía Nam là Nam Mỹ châu.
    Khối đại lục châu Đại dương ở Nam bán cầu, là lục địa
    nhỏ nhất, rất giống một hàng không mẫu hạm nổi trên đại
    dương, đang chạy về phía Bắc! Diện tích sa mạc trên lục
    địa rất lớn, người ở thưa thớt, khu vực dọc theo bờ biển rải
    rác vài điểm dân cư, thường gọi là đại lục cằn cỗi.

    25

    Khối đại lục Nam cực hầu hết ở trong vòng Nam cực,
    điểm cực Nam nằm ở chính giữa khối đại lục. Khối lục địa
    này do ở vĩ độ cao, suốt năm giá rét không có mùa Hạ,
    trên mặt đất hầu như bị một lớp băng tuyết dày che phủ,
    người ta gọi nó là “đại lục băng tuyết”.
    Có nhà khoa học cho rằng, thuở ngày xửa ngày xưa trên
    trái đất chỉ có một khối đại lục khổng lồ. Do trái đất quay và
    trên đất liền xuất hiện nhiều dải nứt nẻ, khối đại lục châu Mỹ
    tách rời khỏi khối lục địa Âu, Phi, châu Phi cũng tách rời khỏi
    châu Âu. Khối đại lục châu Đại dương chạy nhanh nhất nên
    cách xa hẳn châu Á và châu Phi. Khối đại lục châu Nam cực
    vốn nối liền với châu Phi, châu Nam Mỹ và châu Đại dương,
    về sau rồi chúng cũng tách rời nhau, chạy vào trong vòng
    Nam cực. Chúng ta gọi hiện tượng ấy là “lục địa trôi nổi”.
    Bắc Băng Dương
    Khối đại lục
    Bắc Mỹ

    Khối đại lục Á-Âu

    Đại Tây
    Dương
    Khối
    đại lục
    Nam Mỹ

    Khối đại lục
    châu Phi
    Ấn Độ Dương

    Nam Đại Dương
    Khối đại lục Nam Cực

    26

    Thái
    Bình
    Dương

    Khối đại lục châu
    Đại dương

    12

    Bản đồ được vẽ như thế nào?

    Người ta thường xuyên sử dụng bản đồ, đến một chỗ lạ,
    việc trước tiên bạn cần làm là mua một tấm bản đồ hướng
    dẫn. Khi đọc báo bắt gặp một thông tin mới, thể nào bạn
    cũng phải giở bản đồ ra tra tìm vị trí cụ thể. Bạn thấy bản
    đồ gắn liền với cuộc sống của chúng ta không?
    Bản đồ được vẽ như thế nào?
    Trên trái đất có đại dương, lục địa, núi cao và bình nguyên,
    có thành thị và nông thôn, đường sắt và đường ôtô, có
    nhiều quốc gia... Những đại dương, lục địa, núi cao, quốc
    gia... mà ta vừa kể đó đều được gọi là vật thực, dựa vào tỷ
    lệ rút nhỏ lại rất rất nhiều lần, rồi dùng các ký hiệu khác
    nhau vẽ lên những vị trí tương ứng ở trên giấy, đó là bản
    đồ. Để cho người ta xem và hiểu được bản đồ, bên dưới
    bản đồ phải vẽ những ký hiệu khác nhau tiêu biểu cho vật
    thực trên mặt đất, những cái đó là chỉ dẫn bản đồ, chúng ta
    mở bản đồ ra, dựa vào chỉ dẫn là có thể xem được bản đồ.
    Bản đồ được người ta dùng máy móc đo đạc trên mặt
    đất, rồi thu nhỏ lại rất nhiều lần xong thì vẽ lên giấy. Đo
    đạc thực địa tương đối chậm, nhân viên đo đạc khổ lắm,
    ngày chịu nóng nực, đêm ở hoang dã, còn phải leo núi,
    vượt sông nữa. Hiện nay, người ta chụp hình từ trên máy
    bay và vệ tinh nhân tạo, căn cứ vào phim chụp cũng có
    thể vẽ bản đồ được. Đỡ khổ hơn nhiều.
    27

    Bản đồ có nhiều loại như bản đồ thế giới, bản đồ toàn
    quốc, bản đồ tỉnh, bản đồ thành phố; có bản đồ địa hình,
    bản đồ khoáng sản, bản đồ thủy văn, và bản đồ khí hậu;
    còn có bản đồ hàng hải, bản đồ chiến dịch, bản đồ vận
    hành vệ tinh...
    Bản đồ có rất nhiều công dụng lắm: địa lý, lịch sử, chính
    trị... nên ai ai cũng cần dùng đến bản đồ. Khảo sát khoa
    học, dã ngoại, đi du lịch xa, máy bay bay trên bầu trời, tàu
    thủy đi trên đại dương... đều cần có bản đồ; quy hoạch phát
    triển quốc gia, xây dựng hồ nước cỡ lớn, chọn tuyến đường
    sắt và đường xá mới... đều cần phải vẽ bản đồ.

    28

    Chương 2

    Mặt đất trồi sụt
    không nhìn thấy
    Trái đất già ơi là già, cỡ 4 tỷ 600 ngàn năm tuổi, mà lúc
    nào nó cũng thay đổi và vận động. Nếu đem so lịch sử của
    loài người với lịch sử tiến triển của trái đất và lịch sử tiến
    hóa của sinh vật thì có thể nói chỉ như một nháy mắt. Bề
    mặt của trái đất thay đổi trồi sụt bởi động lực chủ yếu là
    từ trong lòng trái đất, bởi vì trong quá trình vận động, nội
    lực của trái đất phân bố đâu có đều, tạo nên hiện tượng
    trồi lên và sụp xuống ở bề mặt trái đất. Sự thay đổi trồi
    lên trên mặt trái đất diễn ra hết sức chậm chạp, phải tính
    bằng vạn năm, con người không cảm giác được và cũng
    không nhìn thấy được.
    Do nội lực của trái đất phân bố không đều, khi lực tập
    trung ở một chỗ nào đó, bề mặt trái đất mỏng không chịu
    đựng nổi, sẽ sinh ra sự biến động bề mặt có tính bộc phát
    như núi lửa phun, động đất và diện tích lớn nứt nẻ ra v.v...
    ấy là những hiện tượng đột biến, người ta có thể thấy được
    ở bề mặt trái đất.

    29

    13

    Tại sao có núi lửa trên trái đất?

    Ít ai được tận mắt nhìn thấy núi lửa phun, nhưng thấy
    núi lửa phun “hoành tráng” qua tivi thì rất nhiều. Trước hết,
    từ miệng núi lửa hoặc từ trong kẽ nứt ở chân núi bùng lên
    khói trắng, sau đó là khối khổng lồ gồm khí, tro cát và đá
    sỏi từ trong miệng núi phun lên không trung, hình thành
    một cột khói khổng lồ, một hồi sau trời đất tối sầm, mặt
    trời đỏ hồng như trái quýt. Đồng thời, có tiếng sấm nổ
    trong lòng đất, mặt đất rung chuyển, liền sau đó là một
    khối lượng lớn dung nham trào ra mặt đất. Trong quá trình
    núi lửa phun, còn có hiện tượng gió lớn, sấm sét và mưa,
    tạo nên một kỳ quan hiếm có.
    Tại sao lại có núi lửa trên trái đất? Bề mặt trái đất có
    một lớp vỏ rất dày, bình thường magma ở trạng thái dịch
    thể bị bao bọc thật chặt trong đó. Nhiệt độ trong lòng trái
    đất đặc biệt cao, áp lực lớn, magma chảy qua chảy lại, như
    luôn luôn muốn tìm chỗ để chui tọt ra ngoài. Có một số
    nơi vỏ trái đất vận động tương đối mãnh liệt, làm nứt nẻ,
    vênh vẹo hoặc chèn ép mạnh, vỏ trái đất tương đối mỏng
    và yếu. Chỗ nào vỏ trái đất càng yếu mỏng thì tiếp nhận
    áp lực của nội lực càng mạnh, magma sẽ thừa thắng xông
    ra từ chỗ đó, tạo nên núi lửa phun.
    Một khi núi lửa đã phun, magma nóng chảy từ miệng
    núi lửa phun ra sẽ trào đi khắp bốn phía, tạo nên từng
    30

    dòng từng dòng “sông lửa”. Trong lúc chảy, magma sẽ dìm
    ngập làng mạc, nhà cửa; những dòng dung nham lớn có
    thể nuốt chửng thành phố, thị trấn, làm đổ sập cầu cống;
    dung nham chảy theo các dòng sông, làm vỡ đê đập, tạo
    thành tai nạn ngập lụt nghiêm trọng.
    Có núi lửa phun một lần, sau khi dung nham lạnh đông
    tạo thành ngọn núi nhỏ hình chóp, đó là núi lửa chết. Có núi
    lửa cách vài năm phun trở lại một lần, dung nham chồng
    chất rất cao, tạo thành đỉnh núi hình chóp rất cao, núi Phú
    Sĩ của Nhật Bản được hình thành như vậy đó, nên được
    gọi là núi lửa sống.
    Khu vực núi lửa phun có nhiều suối nước nóng, nhiệt
    độ suối nước nóng cao nhất có thể lên tới 1000C hoặc hơn.

    31

    14

    Động đất là gì?

    Động đất là gì? Hiện tượng rung động của đất đai là
    động đất.
    Trên trái đất thường xảy ra động đất, có thể nói ngày
    nào cũng có động đất, lúc nào cũng xảy ra động đất. Số
    lần xảy ra động đất rất nhiều nhưng hầu hết các rung động
    nhẹ đó thì chúng ta lại không cảm nhận được. Sự rung
    chuyển nhẹ mặt đất như vậy bình quân cứ hai phút xảy
    ra một lần. Những trận động đất mạnh mà chúng ta cảm
    thấy được có sức tàn phá rất lớn, gây ra tổn thất về người
    và tài sản, động đất lớn như vậy trên thế giới mỗi năm xảy
    ra khoảng 20 lần.
    Tại sao lại xảy ra động đất? Loại thứ nhất là do vỏ trái
    đất bị nóng không đều, chỗ nóng chỗ nguội nên sẽ bị
    giãn nở và co rút, vỏ trái đất bị biến dạng thậm chí gãy
    đứt, dẫn tới mặt đất rung chuyển gây nên động đất, 90%
    động đất trên địa cầu là loại động đất nứt gãy. Loại thứ
    hai là khi núi lửa phun, do magma tạo áp lực vào vỏ trái
    đất, khí ở miệng núi lửa bùng nổ, magma dưới đất giảm
    bớt, v.v... đều dẫn đến hiện tượng làm rung chuyển vỏ trái
    đất, đó là động đất núi lửa. Trên trái đất, tổng số lần động
    đất do núi lửa bùng nổ chiếm 7%. Loại thứ ba là do nắp
    đỉnh của các hang nham thạch lớn trong lòng trái đất đột
    nhiên bị sập, cũng gây ra rung chuyển mặt đất ở phạm vi

    32

    hẹp, đó là động đất sập lở. Loại động đất này chiếm tổng
    số lần động đất trên toàn thế giới khoảng 3%.
    Căn cứ vào lực rung chuyển vỏ trái đất lớn hay nhỏ có
    thể phân chia cấp độ động đất, cấp độ động đất càng lớn
    thì sức phá hoại càng lớn. Cấp động đất lớn hay nhỏ có liên
    quan đến xảy ra động đất sâu hay cạn và lực rung chuyển
    lớn hay nhỏ. Khi nguồn phát sinh ra động đất cách mặt
    đất cạn, lực rung chuyển lại lớn, thì cấp động đất lớn. Cấp
    động đất được biểu thị bằng độ rích-te (Richter). Một lần
    động đất chỉ có một cấp động đất nhưng mức độ tàn phá
    đối với mặt đất chênh lệch rất lớn, nếu gần trung tâm động
    đất th...
     
    Gửi ý kiến

    “Sách là thuốc bổ tinh thần”, “Siêng xem sách và xem nhiều sách là việc đáng quý”

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC & THCS 15/10/ VÂN SƠN - SƠN LA!