Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam
Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam
hay-tra-loi-em-tai-sao-tap-06

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 08h:24' 05-03-2024
Dung lượng: 2.7 MB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 08h:24' 05-03-2024
Dung lượng: 2.7 MB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
Biểu ghi biên mục trước xuất bản được thực hiện bởi Thư viện KHTH TP.HCM
Hãy trả lời em tại sao?. T.6 / Phạm Hồng Hải, Nguyễn Kim Lâm d. - T.P. Hồ Chí Minh:
Trẻ, 2009.
180tr. ; 19cm.
1. Khoa học thường thức. 2. Hỏi và đáp. I. Phạm Hồng Hải, Nguyễn Kim Lâm d.
001 -- dc 22
H412
Phạm Hồng Hải - Nguyễn Kim Lân dịch
4
Chương 1
Trái đất,
ngôi nhà của chúng ta
Trái đất là một hành tinh rất nhỏ trong vũ trụ, và cái
hành tinh nhỏ xíu đó chính là ngôi nhà của chúng ta. Con
người nghiên cứu trái đất một cách toàn diện, lợi dụng nó
để “cống hiến” ngày càng nhiều hơn cho con người.
1
Có bao nhiêu thành viên trong
dòng tộc mặt trời?
Trong không gian có vô số vì sao, những vì sao ấy đều
chuyển động không ngừng. Những vì sao chuyển động hút
nhau, quay quanh nhau, như thế sẽ hình thành hàng ngàn,
hàng vạn dòng tộc độc lập, các nhà thiên văn gọi những
dòng tộc đó là hệ thống thiên thể. Dòng tộc mặt trời là
một trong số hàng ngàn hàng vạn dòng tộc trong bầu trời.
Trong dòng tộc mặt trời lấy mặt trời làm trung tâm,
thành viên chủ yếu còn có hành tinh, vệ tinh cùng với sao
băng và sao chổi...
5
Mặt trời lớn vô cùng, tương đương với thể tích của một
triệu ba trăm ngàn trái đất cộng lại. Mặt trời cũng rất nặng,
theo tính toán của các nhà khoa học, khi trọng lượng chung
của dòng tộc mặt trời là 1000, thì trọng lượng của bản thân
mặt trời là 999; có nghĩa là tổng trọng lượng của tất cả các
thành viên ngoài mặt trời ra mới chỉ là 1. Mặt trời lại là một
quả cầu lửa khổng lồ, lúc nào cũng nóng cháy. Nhiệt độ
bề mặt của nó vào khoảng 6000C, nhiệt độ trung tâm có
thể đạt tới 15 triệu độ trở lên. Dòng khí bốc lên mãnh liệt
làm cho ngọn lửa lớp vỏ mặt trời xuất hiện dạng răng cưa.
Hành tinh là những ngôi sao chuyển động chung quanh
mặt trời, thể tích rất nhỏ, nói chung không phát quang, được
ánh sáng mặt trời chiếu sáng và cung cấp nhiệt lượng.
Dòng tộc mặt trời ngoài mặt trời ra còn có 9 hành tinh
lớn, theo thứ tự từ gần đến xa so với khoảng cách của mặt
trời, đó là: sao Thủy, sao Kim, Trái đất, sao Hỏa, sao Mộc, sao
Thổ, sao Thiên Vương, sao Hải Vương và sao Minh Vương
(thường gọi là sao Diêm Vương - Pluto). Tuy vậy, các nhà
thiên văn học sau một hồi nghiên cứu thì đến năm 2006
đã kết luận rằng sao Minh Vương chỉ là một “hành tinh lùn”.
Trái đất là một trong những thành viên lớn của dòng tộc
mặt trời, cách mặt trời tương đối gần, được mặt trời chiếu
sáng, được mặt trời cung cấp nhiệt lượng cũng tương đối
nhiều. Ở giữa quỹ đạo quay của sao Hỏa và sao Mộc còn
có hàng ngàn hàng vạn tiểu hành tinh.
Vệ tinh là những ngôi sao quay chung quanh các hành
6
tinh; mặt trăng là vệ tinh quay chung quanh trái đất, gọi
là vệ tinh của trái đất. Mặt trăng tỏa sáng được là nhờ ánh
sáng của mặt trời phản chiếu. Vệ tinh trong dòng tộc mặt
trời có đến hơn 100 cái.
Sao băng là những khối nhỏ thể rắn đi vào lớp khí quyển
của trái đất, do ma sát bốc cháy phát ra ánh sáng. Những
tinh thể không cháy hết rơi xuống mặt đất được gọi là
vẫn thạch.
Sao chổi là hành tinh càng nhỏ, nó kéo theo một cái
đuôi lớn hình thù giống như cái chổi rất dài, rất dài, tục
gọi là sao chổi. Sao chổi Halley nổi tiếng quay quanh mặt
trời một vòng mất 76 năm.
7
2
Quả địa cầu có công dụng gì?
Chúng ta có thể dùng giấy các tông làm một quả cầu
tròn tiêu biểu cho trái đất, trên bề mặt của mô hình, các
lục địa được tô màu vàng hoặc màu xanh nhạt và các đại
dương tô màu xanh dương, rồi vẽ các quốc gia. Trên quả
cầu tròn đó, ta xuyên vào một các trục, cố định hai đầu
trục lên một cái giá đỡ có thể quay được, đó là quả địa cầu.
Chúng ta quan sát thật cẩn thận các ký hiệu, vị trí tương
đối trên quả địa cầu, nó có thể chỉ dạy cho ta rất nhiều tri
thức. Bản thân địa cầu quay từ Tây sang Đông. Trong quá
trình quay, luôn luôn có hai điểm cố định. Đó là hai điểm
cực. Điểm chỉ về ngôi sao bắc cực là điểm Bắc cực, ngược
lại điểm dưới Bắc cực là điểm Nam cực. Có thể làm một thí
nghiệm nhỏ, đặt một quả cầu da nhỏ lên mặt bàn nhẵn
bóng, cho quả cầu da quay tít, luôn luôn ta nhìn thấy có
một điểm bất động. Cho nên trục quả địa cầu phải đi qua
hai điểm cực Nam, Bắc, điểm Bắc cực quay lên trên.
Trên quả địa cầu còn có tuyến ngang và tuyến dọc, tuyến
dọc nối điểm hai cực gọi là kinh tuyến; kinh tuyến đi qua
địa điểm đặt đài thiên văn Greenwich nước Anh là tuyến
0 độ, sang hướng Đông và hướng Tây mỗi bên 180 độ,
trùng hợp với mặt sau tuyến 0 độ. Tuyến ngang vuông góc
với kinh tuyến là vĩ tuyến, vòng vĩ tuyến lớn nhất là xích
đạo, xác định là 0 độ. Vòng vĩ tuyến từ 0 độ xích đạo càng
8
hướng về hai cực càng
nhỏ dần, điểm hai cực
xác định là vĩ độ 90 độ.
Trên quả địa cầu, kinh
tuyến và vĩ tuyến giao
nhau tạo thành tọa độ
kinh vĩ tuyến. Căn cứ
và tọa độ kinh vĩ có
thể xác định được vị trí chính xác của bất cứ một điểm
nào trên trái đất.
Mặt xích đạo chia địa cầu thành Nam bán cầu và Bắc
bán cầu. Về tập quán, căn cứ vào vòng kinh tuyến 20 độ
kinh Tây và 160 độ kinh Đông chia địa cầu ra thành Đông,
Tây bán cầu.
Bạn có để ý thấy gì không? Trục trên quả địa cầu không
phải thẳng đứng đâu nhé, nó nghiêng đấy. Vì rằng trái đất
trong quá trình quay của mình, giữa mặt quỹ đạo của trái
đất quay chung quanh mặt trời và địa trục có một góc
chếch 66,5 độ, cho nên trục trái đất nghiêng.
Chúng ta thường nhìn thấy địa đồ đều vẽ trên giấy, quả
địa cầu tức là địa đồ vẽ trên cầu tròn. Quả địa cầu cũng
quay như trái đất vậy, thầy cô giáo dùng quả địa cầu để
dạy học, nhờ đó chúng ta hiểu được tương đối dễ dàng rất
nhiều tri thức địa lí, như ngày và đêm, sự nóng lạnh trên
các vĩ độ khác nhau, vị trí của các đại dương và lục địa v.v...
9
3
Trái đất có hình dáng
giống như thế nào?
Nếu như chúng ta ngồi trên phi thuyền vũ trụ nhìn xuống
trái đất ở độ cao mấy vạn, mấy chục vạn kilômét, sẽ thấy
hình dáng trái đất như thế nào? Chỉ nhìn thấy dạng ngôi
sao hình tròn treo lơ lửng trong không trung, bên trên có
biển màu xanh dương và mây màu trắng. Trong trường
hợp không bị áng mây nào che khuất, có thể nhìn thấy
lằn ranh giữa biển và lục địa trên trái đất. Khi quỹ đạo vận
hành của phi thuyền đi gần trái đất, giữa ban ngày quang
đãng, có thể nhìn thấy rất rõ Kim Tự Tháp của Ai Cập cổ.
Nhờ vệ tinh nhân tạo hay phi thuyền vũ trụ mà chúng
ta có rất nhiều bức ảnh về trái đất. Nhìn qua các bức ảnh.
Trái đất là một khối cầu. Qua kết quả tính toán của các
nhà khoa học, trái đất không phải là một quả cầu tròn tròn
3
(a) 1. Địa tâm 2. Bắc cực 3. Nam cực 4. Xích đạo 5. 6378km
(b) 1. Bắc cực 2. Nam cực
10
trịa, nó là một khối hơi tròn có hai cực hơi rút ngắn, bán
kính xích đạo hơi dài ra. Nói cụ thể là bán kính xích đạo
dài hơn bán kính cực 21 kilômét. Nhưng bán kính Nam
Bắc cực cũng không phải là dài như nhau, bán kính Bắc
cực dài hơn bán kính Nam cực là 40mét. Cho nên, trái đất
là một khối tròn có hai cực hơi dẹt, xích đạo hơi gồ lên
giống như một quả lê.
Trái đất bao lớn? Nếu như đi vòng quanh trái đất một
vòng lớn có 40 ngàn cây số. Nếu như một người mỗi ngày đi
50 kilômét, phải 800 ngày mới có thể đi hết một vòng lớn.
Diện tích bề mặt trái đất cũng rất lớn: 510 triệu kilômét
vuông.
Bề mặt trái đất chủ yếu bị đại dương bao bọc, diện tích
361 triệu kilômét vuông, chiếm 71% diện tích bề mặt trái
đất. Diện tích lục địa của bề mặt trái đất là 149 triệu kilômét vuông, chiếm 29% diện tích bề mặt trái đất. Lục địa
chủ yếu phân bố ở Bắc bán cầu, ở phía Bắc xích đạo, đại
dương chủ yếu phân bố ở Nam bán cầu, phía Nam xích đạo.
4
Trái đất quay như thế nào?
Bạn có biết là trái đất đang quay không? Chỉ cần để
tâm quan sát một số hiện tượng là sẽ chứng minh được
trái đất thực sự đang quay. Hàng ngày chúng ta đều nhìn
thấy mặt trời mọc từ hướng Đông và lặn về hướng Tây,
11
đó là kết quả sự quay của trái đất. Giả dụ trái đất không
quay, mặt trời sẽ chiếu sáng mãi ở một mặt trái đất, mặt
được chiếu sáng luôn luôn là ban ngày rất nóng, mặt kia
là ban đêm rất lạnh.
Tại sao chúng ta lại không cảm thấy trái đất quay? Bây
giờ hãy thử làm một thí nghiệm nhỏ: Chúng ta ở trong
một chiếc xe bịt kín hay trong tàu thủy, chỉ cần xe và tàu
chạy rất êm, chúng ta sẽ cảm thấy không động đậy. Khi
chúng ta mở toang cửa sổ xe hay tàu thủy ra, sẽ thấy cảnh
vật ở bên ngoài cửa sổ chạy lui về phía sau, khi xe và tàu
chạy càng nhanh, cảnh vật ngoài cửa sổ chạy lui về phía
sau càng nhanh hơn.
Chúng ta sống ở trên trái đất, vì trái đất có sức hút, trái
đất hút chặt chúng ta trên mặt đất. Ngoài ra, trái đất là một
12
khối tròn rất lớn, chuyển động lại rất chậm, rất êm, lẽ tất
nhiên chúng ta sẽ không cảm thấy trái đất quay.
Do sức hút của trái đất rất lớn lại quay rất chậm và êm,
ở trên nhà cao ta không cảm thấy lúc lắc; cũng vậy, những
thứ như bàn, ghế, tủ lạnh ở trong phòng luôn luôn được
đặt ổn định, không hề nhúc nhích gì cả.
Vì những lí do như vậy mà con người mới có thể sản
xuất và sinh hoạt bình thường, máy móc vận hành bình
thường, máy cày cày đúng giờ giấc, cưỡi xe đạp đi làm bảo
đảm thời gian, người đi đường không bị té ngã.
5
Tại sao có ban ngày và ban đêm?
Để nói rõ tại sao có ban ngày và ban đêm, trước hết
chúng ta hãy làm một thực nghiệm nho nhỏ. Bạn chuẩn
bị cho một cái đèn pin làm mặt trời, một quả bóng da làm
trái đất. Cho quả bóng da quay tít, mặt quả bóng da quay
về phía ánh sáng đèn pin thì sáng, ấy là “ban ngày”, mặt
bên kia ánh sáng đèn pin không rọi được là đêm tối. Quả
cầu da tiếp tục quay, ở mặt ánh sáng đèn pin không rọi
được lúc đầu sẽ quay về phía trước, trở thành ban ngày
và được rọi sáng; còn bề mặt được rọi ánh sáng lúc đầu
quay về phía sau trở thành “ban đêm” không được rọi ánh
sáng. Vị trí của ánh sáng đèn pin không thay đổi, quả cầu
da cứ tiếp tục quay, sẽ xuất hiện hiện tượng ban ngày và
ban đêm không ngừng đan xen nhau.
13
Trái đất là một khối tròn rất lớn, quay không ngừng, tự
nó không phát ra ánh sáng. Khi Đông bán cầu quay về phía
mặt trời, được ánh sáng mặt trời chiếu sáng là ban ngày. Tây
bán cầu do ở về phía sau mặt trời, không được ánh sáng
mặt trời chiếu sáng, tức là ban đêm. Trái đất không ngừng
quay, quay mãi nên ban ngày, ban đêm không ngừng thay
thế cho nhau.
Phía mặt trời mọc là hướng Đông, phía mặt trời lặn là
hướng Tây, phía chỉ về phía sao Bắc Đẩu là hướng Bắc, phía
đối diện với sao Bắc Đẩu là hướng Nam. Trái đất không ngừng
quay quanh trục trái đất theo hướng từ Tây sang Đông, quay
một vòng mất 24 tiếng đồng hồ, là một ngày. Thí dụ hôm
nay mặt trời chiếu sáng đúng ngay chỗ chúng ta ở, là đúng
12 giờ trưa ban ngày, qua ngày hôm sau khi mặt trời chiếu
sáng ngay đúng chúng ta, vẫn là 12 giờ trưa ban ngày, thời
gian đi qua giữa khoảng thời gian đó là 24 tiếng đồng hồ.
Bắc cực
Ánh
sáng
mặt
trời
Nam cực
14
Do thời gian cần thiết cho sự thay đổi giữa ban ngày và
ban đêm tương đối ngắn, nên mặt đất được tăng nhiệt ban
ngày không nóng lắm và ban đêm cũng không đến nỗi lạnh
lắm. Có vậy con người, muông thú, cỏ cây mới sống nổi.
6
Bốn mùa trong năm phân chia
và thay đổi như thế nào?
Trái đất là một trong những thành viên lớn của dòng
tộc mặt trời, không những nó tự quay quanh mình nó,
mà nó còn quay quanh mặt trời. Trái đất quanh quanh
mặt trời một vòng mất 365 ngày 6 giờ, do đó, bình thường
một năm là 365 ngày. Đến năm thứ tư vừa đúng 365 ngày
hãy còn 24 tiếng đồng hồ, thực tế là năm thứ tư phải tăng
thêm một ngày, là 366 ngày, năm đó là năm nhuận.
Khi trái đất quay quanh mặt trời, hướng chếch của trục
trái đất không thay đổi, cực Bắc của trục trái đất luôn luôn
chỉ về hướng sao Bắc Đẩu. Trong một năm, tùy theo vị trí
quay của trái đất khác nhau, vị trí của điểm chiếu sáng
thẳng đứng của mặt trời cũng thay đổi một cách có quy
luật, các nơi trên trái đất tiếp thu nhiệt của ánh sáng mặt
trời cũng theo đó mà thay đổi nhiều ít khác nhau. Do đó,
cũng một địa phương trên trái đất nhưng trong năm có
hiện tượng lạnh và nóng thay đổi cho nhau.
15
Xuân phân 21/3
Quỹ đạo của trái đất
Hướng quay
Đông chí
22/12
Hạ chí
22/6
Hướng quay
Quỹ đạo của trái đất
Thu phân 23/9
Bốn mùa trong năm phân chia như thế nào và bốn mùa
thay đổi như thế nào?
Trước và sau ngày 22 tháng 6 hằng năm là tiết Hạ chí,
mặt trời chiếu thẳng xuống Bắc bán cầu, Bắc bán cầu nhận
nhiệt ánh sáng mặt trời nhiều, khí hậu oi bức, là mùa Hạ.
Nam bán cầu nhận nhiệt ánh sáng mặt trời ít, khí hậu lạnh,
là mùa Đông.
Trước và sau ngày 21 tháng 3 hàng năm là tiết Xuân
phân, mặt trời chiếu thẳng trên xích đạo, Nam bán cầu và
Bắc bán cầu tiếp nhận nhiệt ánh sáng mặt trời như nhau,
Bắc bán cầu là mùa Xuân ôn hòa, Nam bán cầu là mùa Thu
mát dịu. Trước và sau 23 tháng 9 là tiết Thu phân, mặt trời
cũng chiếu thẳng trên xích đạo, Bắc bán cầu là mùa Thu
mát dịu, Nam bán cầu là mùa Xuân ôn hòa.
16
7
Tại sao có ngày cực
và đêm cực?
Vì trái đất vừa quay chung quanh trục của bản thân nó,
lại vừa quay chung quanh mặt trời theo một hướng chếch
không thay đổi, do đó ngày và đêm của các vĩ độ trên trái
đất cũng dài ngắn khác nhau tùy theo mùa. Hàng năm chỉ
có hai ngày 21 tháng 3 (ngày Xuân phân) và ngày 23 tháng
9 (ngày Thu phân), mặt trời chiếu thẳng đứng trên xích đạo,
nên ngày và đêm của tất cả các nơi trên toàn cầu đều dài
ngắn như nhau, đúng 12 tiếng đồng hồ.
Trong nửa năm từ ngày 21 tháng 3 đến ngày 23 tháng
9, mặt trời chiếu thẳng Bắc bán cầu, là nửa năm Hạ. Trong
nửa năm Hạ đó, các vĩ độ Bắc bán cầu đều là ngày dài
đêm ngắn. Do xích đạo hướng Bắc cực, thời gian ban ngày
càng dài tùy theo sự tăng cao của vĩ độ, thời gian ban đêm
ngắn dần. Ngày 22 tháng 6 (ngày Hạ chí), mặt trời chiếu
thẳng tới giới hạn tận cùng phía Bắc là 23,5 độ vĩ Bắc, khu
vực Bắc cực ở về phía Bắc 66,5 độ vĩ Bắc suốt ngày mặt
trời không lặn, chỉ có ban ngày, không có ban đêm, hiện
tượng này được gọi là ngày cực. Nam bán cầu thì ngược
lại hoàn toàn, do xích đạo hướng Nam cực, tùy theo vĩ độ
tăng cao, thời gian ban ngày ngắn lại, thời gian ban đêm
dài ra. Ngày Hạ chí, khu vực Nam cực ở 66,5 độ vĩ Nam trở
về phía Nam suốt ngày là ban đêm, không có ban ngày,
17
Bắc cực
Ánh sáng
mặt trời
Bắc cực
Nam cực
22/6 (ngày Hạ chí
Bắc bán cầu)
22/12 (ngày Đông
chí Bắc bán cầu)
hiện tượng này được gọi là đêm cực. Nam bán cầu là nửa
năm mùa Đông.
Trong nửa năm từ 23 tháng 9 đến 23 tháng 3 năm sau,
mặt trời chiếu thẳng Nam bán cầu, là nửa năm Hạ. Trong
nửa năm này, các vĩ độ Nam bán cầu ngày đều dài và đêm
ngắn lại. Ngày 22 tháng 12, mặt trời chiếu thẳng tới giới
hạn tận cùng phía Nam là 23,5 độ vĩ Nam, phạm vi mặt trời
không lặn ở khu vực phía Nam cực lớn nhất, ở về phía Nam
66,5 độ vĩ Nam xuất hiện hiện tượng ngày cực chỉ có ban
ngày, không có ban đêm. Bắc bán cầu thì hoàn toàn ngược
lại, khu vực Bắc cực ở 66,5 độ vĩ Bắc trở ra Bắc là đêm, suốt
ngày không có mặt trời, xuất hiện hiện tượng đêm cực,
không có ban ngày. Bắc bán cầu là nửa năm mùa Đông.
18
8
Năm vùng trên trái đất
được phân chia như thế nào?
Năm vùng trên trái đất là: nhiệt đới, Bắc ôn đới, Nam ôn
đới, Bắc hàn đới và Nam hàn đới. Người ta phân chia bằng
cách căn cứ vào sự tiếp nhận nhiệt lượng mặt trời nhiều ít
khác nhau ở các bộ phận trên trái đất. Ranh giới của năm
vùng trên trái đất được phân định như thế nào?
a. Nhiệt đới: ở giữa 23,5 độ vĩ Bắc là vùng duy nhất trên
trái đất có thể tiếp nhận được ánh sáng mặt trời chiếu thẳng,
được mặt trời cung cấp nhiệt lượng nhiều nhất, cũng là
vùng nóng nhất toàn cầu, chúng ta gọi nó là vùng nhiệt đới.
b. Hàn đới: ở về phía Bắc 66,5 độ vĩ Bắc đến điểm cực
Bắc, ở phía Nam 66,5 độ vĩ Nam cho đến điểm cực Nam,
hai vùng này hàng năm có một quãng thời gian là đêm
dài triền miên, tức là ngày có mặt trời chiếu rọi nhưng do
ánh sáng mặt trời chiếu chếch rất lớn, mặt đất tiếp nhận
nhiệt lượng rất ít, hầu như không đáng kể, khí hậu suốt
năm rét buốt, chúng ta gọi là vùng hàn đới. Vùng hàn đới
của Bắc bán cầu gọi là Bắc hàn đới, vùng hàn đới của Nam
bán cầu gọi là Nam hàn đới.
c. Ôn đới: 23,5 độ đến 66,5 độ vĩ Bắc, 23,5 độ đến 66,5
độ vĩ Nam, hai vùng này tiếp nhận nhiệt lượng của mặt
trời ít hơn so với vùng nhiệt đới, nhiều hơn vùng hàn đới,
gọi chúng là ôn đới. Ôn đới của Bắc bán cầu gọi là Bắc ôn
đới, ôn đới của Nam bán cầu gọi là Nam ôn đới.
19
Người ta quen gọi vĩ tuyến 23,5 độ vĩ độ Nam, Bắc là
chí tuyến Nam, Bắc, khi mặt trời chiếu thẳng đến tuyến
này thì đi trở về, cho nên còn gọi là tuyến hồi quy. Gọi
vĩ tuyến 66,5 độ vĩ độ Nam, Bắc là vòng cực Nam, Bắc, là
ranh giới xuất hiện ở phạm vi lớn nhất hiện tượng ngày
cực và đêm cực, là vòng tròn lấy điểm cực làm trung tâm,
cho nên gọi nó là vòng cực.
Chúng ta cũng có thể khái quát ranh giới của năm vùng
như sau: chí tuyến Nam, Bắc là tuyến phân ranh nhiệt đới
và ôn đới; vòng cực Nam, Bắc là tuyến phân ranh hàn đới
và ôn đới.
1. Ánh sáng mặt trời
2. Nhiệt đới
3. Ôn đới
đới
13. Chí tuyến bắc
20
5. Bắc cực
6. Nam cực
7. Ôn đới
8. Bắc hàn đới
14. Chí tuyến Nam
9. Nhiệt đới
10. Nam hàn đới
11. Nam ôn đới 4. Hàn
12. Xích đạo
9
Lòng trái đất được
phân tầng như thế nào?
Trái đất cũng giống như một quả trứng gà, có thể chia
làm ba phần: “vỏ trứng”, “lòng trắng trứng” và “lòng đỏ”. Lớp
mỏng ở bề mặt trái đất gọi là vỏ trái đất, lớp ở giữa gọi là
lòng đất, lớp trong cùng là nhân trái đất.
a. Vỏ trái đất: vỏ ngoài của lớp bề mặt trái đất có độ
dày bình quân là 17 kilômét. Bề mặt trái đất có lục địa, đại
dương, núi cao, bình nguyên... độ dày vỏ trái đất ở các nơi
lại không giống nhau. Độ dày bình quân của lục địa là 33
kilômét; vỏ trái đất ở đại dương mỏng nhất, chỉ 6 kilômét;
độ dày ở khu vực cao nguyên núi cao là dày nhất, có thể
tới 60-70 kilômét. Vỏ trái đất chủ yếu là lớp vỏ ngoài rắn
chắc cấu thành bởi nham thạch cứng.
b. Lòng đất: lớp giữa của trái đất, còn gọi là tầng trung
gian. Độ sâu của lòng đất từ vỏ trái đất trở xuống là 2.900
kilômét. Chủ yếu được cấu thành bởi nham thạch chứa sắt
và manhê. Nhiệt độ của tầng này tăng cao, áp lực và mật
độ tăng lớn, nham thạch tương đối mềm, bị chèn ép co
bóp nên dễ dàng thay đổi hình dáng.
c. Nhân trái đất: bộ phận trung tâm của trái đất giống
như hạt của quả vậy. Do nhân trái đất cách bề mặt trái
đất rất rất xa, nên không rõ hết mọi chi tiết của nó. Qua
nghiên cứu rất nhiều năm, các nhà khoa học cho rằng bộ
21
phận trung tâm của trái
Vỏ trái đất
Lòng đất
đất được cấu tạo bởi
kim loại có trọng lượng
nặng như sắt, niken và
các chất khác. Do nhiệt
độ rất cao, áp lực cực
lớn nên các chất hợp
Nhân trái đất
thành nhân trái đất ở
trạng thái lỏng. Nhân
trái đất hiện nay vẫn
còn là bí mật, trong tương lai nhất định các nhà khoa học
sẽ khám phá ra điều bí mật ấy.
Người ta có thể trực tiếp quan sát được đặc trưng của
bộ phận ở ngoài của trái đất, còn không cách nào có thể
trực tiếp nhìn thấy được bên trong của trái đất. giếng khoan
sâu nhất của thế giới là 4.000-5.000 mét, so với trái đất thì
quả là một lớp nhỏ rất rất mỏng mà thôi. Người ta sử dụng
phương pháp gì để tìm hiểu kết cấu bên trong của trái đất?
Phương pháp truyền sóng địa chấn nhân tạo. Tầng nham
thạch, đặt trưng kết cấu khác nhau thì hình sin truyền dẫn
khác nhau, rồi căn cứ vào đặc điểm hình sin để phán đoán
đặc điểm bên trong của trái đất. Phương pháp này còn gián
tiếp và tương đối sơ lược, muốn tìm hiểu tình hình cụ thể
bên trong của trái đất, còn phải đợi các nhà khoa học “đi”
sâu hơn nữa vào lòng trái đất.
22
10
Lớp vòng của bề mặt
trái đất ra sao?
Trái đất cũng giống như một món đồ quý giá, bên ngoài
được bao gói mấy lớp. Lớp vòng bao quanh bề mặt trái
đất lần lượt từ ngoài vào trong là: khí quyển, vòng sinh vật,
vòng nước và vòng nham thạch.
a. Khí quyển: bề mặt trái đất bị bao bọc bởi một lớp vật
chất ở trạng thái khí rất dày, giới hạn phần dưới của nó là
bề mặt trái đất, giới hạn bên trên không có độ cao rõ rệt.
Vòng khí quyển giống như một lớp chắn che phủ trái đất,
giữ cho môi trường trái đất có một nhiệt độ thích nghi. Khí
quyển được tụ tập ở bề mặt trái đất bởi tác dụng sức hút
của trái đất nên càng lên cao không khí càng loãng. Thành
phần không khí chủ yếu là nitơ và oxy, những thành viên
khác trong dòng tộc mặt trời như sao Kim, sao Hỏa thì chủ
yếu là carbonic, hầu như không có oxy.
b. Vòng nước: bao gồm nước biển, nước sông, nước hồ,
nước đầm, nước băng hà của bề mặt lục địa, dưới mặt đất
còn có nước ngầm. Những thứ nước đó cũng giống như
máu trong cơ thể con người, thông qua mặt đất liền với
nhau thành một chỉnh thể, tạo thành vòng nước bao bọc
lấy trái đất. Xã hội loài người không tách khỏi nước được,
động thực vật sinh sống và phát triển cũng không tách rời
khỏi nước. Nước là một trong những nhân tố tích cực nhất
làm thay đổi bộ mặt trái đất.
23
c. Vòng nham thạch: chỉ lớp vỏ cứng thể rắn của trái đất,
vòng nham thạch nhô lên khỏi vòng nước là lục địa thế
giới, vòng nham thạch bị nước biển nhấn chìm là đáy biển
thế giới. Vòng nham thạch cũng là một chỉnh thể, giống
như lớp vỏ ngoài cứng của hạt đào, bao bọc lấy trái đất.
d. Vòng sinh vật: khí quyển, vòng nước và vòng nham
thạch trên trái đất độc lập với nhau, mỗi loại thành hệ
thống, nhưng lại là một chỉnh thể thẩm thấu nhau và tác
dụng lẫn nhau. Như vậy trái đất tạo môi trường cho sinh
vật có thể sinh tồn và phát triển, thay đổi, như ánh sáng
mặt trời, không khí, nước, đất, v.v... Toàn bộ những dải sinh
vật này tồn tại ở trên vòng nham thạch, ở dưới vòng khí
quyển và vòng nước, hình thành nên lớp vòng sinh vật
độc lập liên tục.
Khí quyển
Vòng sinh vật
Vòng nước
Vòng nham thạch
24
Đại dương
11
Lục địa phân thành mấy khối?
Khi chúng ta mở tấm bản đồ thế giới, trước hết chúng
ta thấy diện tích đại dương rất lớn, diện tích lục địa nhỏ;
nhìn kỹ ta thấy phần lớn lục địa phân bố ở Bắc bán cầu,
Nam bán cầu rất nhỏ. Những lục địa ấy bị đại dương chia
thành năm khối đại lục: khối đại lục Á-Âu, khối đại lục châu
Phi, khối đại lục châu Mỹ, khối đại lục châu Đại dương và
khối đại lục châu Nam cực.
Khối đại lục Á-Âu ở Bắc bán cầu, là đại lục lớn nhất.
Hình dáng của khối đại lục này giống như một cái quạt
xòe, châu Á, châu Âu giống như một cái “góc” ở phần Tây
Bắc trên cái quạt xòe.
Khối đại lục châu Phi giống một cái lá cây đại thụ,
trải bằng trên xích đạo, phía Bắc hơi rộng, phía Nam
hẹp lại, tựa sát vào phía Tây Nam của đại lục châu
Á-Âu, làm như Á-Âu không phải là một khối lục địa vậy.
Khối đại lục châu Mỹ dài nhất, hai đầu đại lục lớn, ở giữa
nối bằng một lục địa rất hẹp, rất giống một cái vòng lắc
khổng lồ không quy tắc mấy. Khối đại lục phía Bắc là Bắc
Mỹ châu, khối đại lục phía Nam là Nam Mỹ châu.
Khối đại lục châu Đại dương ở Nam bán cầu, là lục địa
nhỏ nhất, rất giống một hàng không mẫu hạm nổi trên đại
dương, đang chạy về phía Bắc! Diện tích sa mạc trên lục
địa rất lớn, người ở thưa thớt, khu vực dọc theo bờ biển rải
rác vài điểm dân cư, thường gọi là đại lục cằn cỗi.
25
Khối đại lục Nam cực hầu hết ở trong vòng Nam cực,
điểm cực Nam nằm ở chính giữa khối đại lục. Khối lục địa
này do ở vĩ độ cao, suốt năm giá rét không có mùa Hạ,
trên mặt đất hầu như bị một lớp băng tuyết dày che phủ,
người ta gọi nó là “đại lục băng tuyết”.
Có nhà khoa học cho rằng, thuở ngày xửa ngày xưa trên
trái đất chỉ có một khối đại lục khổng lồ. Do trái đất quay và
trên đất liền xuất hiện nhiều dải nứt nẻ, khối đại lục châu Mỹ
tách rời khỏi khối lục địa Âu, Phi, châu Phi cũng tách rời khỏi
châu Âu. Khối đại lục châu Đại dương chạy nhanh nhất nên
cách xa hẳn châu Á và châu Phi. Khối đại lục châu Nam cực
vốn nối liền với châu Phi, châu Nam Mỹ và châu Đại dương,
về sau rồi chúng cũng tách rời nhau, chạy vào trong vòng
Nam cực. Chúng ta gọi hiện tượng ấy là “lục địa trôi nổi”.
Bắc Băng Dương
Khối đại lục
Bắc Mỹ
Khối đại lục Á-Âu
Đại Tây
Dương
Khối
đại lục
Nam Mỹ
Khối đại lục
châu Phi
Ấn Độ Dương
Nam Đại Dương
Khối đại lục Nam Cực
26
Thái
Bình
Dương
Khối đại lục châu
Đại dương
12
Bản đồ được vẽ như thế nào?
Người ta thường xuyên sử dụng bản đồ, đến một chỗ lạ,
việc trước tiên bạn cần làm là mua một tấm bản đồ hướng
dẫn. Khi đọc báo bắt gặp một thông tin mới, thể nào bạn
cũng phải giở bản đồ ra tra tìm vị trí cụ thể. Bạn thấy bản
đồ gắn liền với cuộc sống của chúng ta không?
Bản đồ được vẽ như thế nào?
Trên trái đất có đại dương, lục địa, núi cao và bình nguyên,
có thành thị và nông thôn, đường sắt và đường ôtô, có
nhiều quốc gia... Những đại dương, lục địa, núi cao, quốc
gia... mà ta vừa kể đó đều được gọi là vật thực, dựa vào tỷ
lệ rút nhỏ lại rất rất nhiều lần, rồi dùng các ký hiệu khác
nhau vẽ lên những vị trí tương ứng ở trên giấy, đó là bản
đồ. Để cho người ta xem và hiểu được bản đồ, bên dưới
bản đồ phải vẽ những ký hiệu khác nhau tiêu biểu cho vật
thực trên mặt đất, những cái đó là chỉ dẫn bản đồ, chúng ta
mở bản đồ ra, dựa vào chỉ dẫn là có thể xem được bản đồ.
Bản đồ được người ta dùng máy móc đo đạc trên mặt
đất, rồi thu nhỏ lại rất nhiều lần xong thì vẽ lên giấy. Đo
đạc thực địa tương đối chậm, nhân viên đo đạc khổ lắm,
ngày chịu nóng nực, đêm ở hoang dã, còn phải leo núi,
vượt sông nữa. Hiện nay, người ta chụp hình từ trên máy
bay và vệ tinh nhân tạo, căn cứ vào phim chụp cũng có
thể vẽ bản đồ được. Đỡ khổ hơn nhiều.
27
Bản đồ có nhiều loại như bản đồ thế giới, bản đồ toàn
quốc, bản đồ tỉnh, bản đồ thành phố; có bản đồ địa hình,
bản đồ khoáng sản, bản đồ thủy văn, và bản đồ khí hậu;
còn có bản đồ hàng hải, bản đồ chiến dịch, bản đồ vận
hành vệ tinh...
Bản đồ có rất nhiều công dụng lắm: địa lý, lịch sử, chính
trị... nên ai ai cũng cần dùng đến bản đồ. Khảo sát khoa
học, dã ngoại, đi du lịch xa, máy bay bay trên bầu trời, tàu
thủy đi trên đại dương... đều cần có bản đồ; quy hoạch phát
triển quốc gia, xây dựng hồ nước cỡ lớn, chọn tuyến đường
sắt và đường xá mới... đều cần phải vẽ bản đồ.
28
Chương 2
Mặt đất trồi sụt
không nhìn thấy
Trái đất già ơi là già, cỡ 4 tỷ 600 ngàn năm tuổi, mà lúc
nào nó cũng thay đổi và vận động. Nếu đem so lịch sử của
loài người với lịch sử tiến triển của trái đất và lịch sử tiến
hóa của sinh vật thì có thể nói chỉ như một nháy mắt. Bề
mặt của trái đất thay đổi trồi sụt bởi động lực chủ yếu là
từ trong lòng trái đất, bởi vì trong quá trình vận động, nội
lực của trái đất phân bố đâu có đều, tạo nên hiện tượng
trồi lên và sụp xuống ở bề mặt trái đất. Sự thay đổi trồi
lên trên mặt trái đất diễn ra hết sức chậm chạp, phải tính
bằng vạn năm, con người không cảm giác được và cũng
không nhìn thấy được.
Do nội lực của trái đất phân bố không đều, khi lực tập
trung ở một chỗ nào đó, bề mặt trái đất mỏng không chịu
đựng nổi, sẽ sinh ra sự biến động bề mặt có tính bộc phát
như núi lửa phun, động đất và diện tích lớn nứt nẻ ra v.v...
ấy là những hiện tượng đột biến, người ta có thể thấy được
ở bề mặt trái đất.
29
13
Tại sao có núi lửa trên trái đất?
Ít ai được tận mắt nhìn thấy núi lửa phun, nhưng thấy
núi lửa phun “hoành tráng” qua tivi thì rất nhiều. Trước hết,
từ miệng núi lửa hoặc từ trong kẽ nứt ở chân núi bùng lên
khói trắng, sau đó là khối khổng lồ gồm khí, tro cát và đá
sỏi từ trong miệng núi phun lên không trung, hình thành
một cột khói khổng lồ, một hồi sau trời đất tối sầm, mặt
trời đỏ hồng như trái quýt. Đồng thời, có tiếng sấm nổ
trong lòng đất, mặt đất rung chuyển, liền sau đó là một
khối lượng lớn dung nham trào ra mặt đất. Trong quá trình
núi lửa phun, còn có hiện tượng gió lớn, sấm sét và mưa,
tạo nên một kỳ quan hiếm có.
Tại sao lại có núi lửa trên trái đất? Bề mặt trái đất có
một lớp vỏ rất dày, bình thường magma ở trạng thái dịch
thể bị bao bọc thật chặt trong đó. Nhiệt độ trong lòng trái
đất đặc biệt cao, áp lực lớn, magma chảy qua chảy lại, như
luôn luôn muốn tìm chỗ để chui tọt ra ngoài. Có một số
nơi vỏ trái đất vận động tương đối mãnh liệt, làm nứt nẻ,
vênh vẹo hoặc chèn ép mạnh, vỏ trái đất tương đối mỏng
và yếu. Chỗ nào vỏ trái đất càng yếu mỏng thì tiếp nhận
áp lực của nội lực càng mạnh, magma sẽ thừa thắng xông
ra từ chỗ đó, tạo nên núi lửa phun.
Một khi núi lửa đã phun, magma nóng chảy từ miệng
núi lửa phun ra sẽ trào đi khắp bốn phía, tạo nên từng
30
dòng từng dòng “sông lửa”. Trong lúc chảy, magma sẽ dìm
ngập làng mạc, nhà cửa; những dòng dung nham lớn có
thể nuốt chửng thành phố, thị trấn, làm đổ sập cầu cống;
dung nham chảy theo các dòng sông, làm vỡ đê đập, tạo
thành tai nạn ngập lụt nghiêm trọng.
Có núi lửa phun một lần, sau khi dung nham lạnh đông
tạo thành ngọn núi nhỏ hình chóp, đó là núi lửa chết. Có núi
lửa cách vài năm phun trở lại một lần, dung nham chồng
chất rất cao, tạo thành đỉnh núi hình chóp rất cao, núi Phú
Sĩ của Nhật Bản được hình thành như vậy đó, nên được
gọi là núi lửa sống.
Khu vực núi lửa phun có nhiều suối nước nóng, nhiệt
độ suối nước nóng cao nhất có thể lên tới 1000C hoặc hơn.
31
14
Động đất là gì?
Động đất là gì? Hiện tượng rung động của đất đai là
động đất.
Trên trái đất thường xảy ra động đất, có thể nói ngày
nào cũng có động đất, lúc nào cũng xảy ra động đất. Số
lần xảy ra động đất rất nhiều nhưng hầu hết các rung động
nhẹ đó thì chúng ta lại không cảm nhận được. Sự rung
chuyển nhẹ mặt đất như vậy bình quân cứ hai phút xảy
ra một lần. Những trận động đất mạnh mà chúng ta cảm
thấy được có sức tàn phá rất lớn, gây ra tổn thất về người
và tài sản, động đất lớn như vậy trên thế giới mỗi năm xảy
ra khoảng 20 lần.
Tại sao lại xảy ra động đất? Loại thứ nhất là do vỏ trái
đất bị nóng không đều, chỗ nóng chỗ nguội nên sẽ bị
giãn nở và co rút, vỏ trái đất bị biến dạng thậm chí gãy
đứt, dẫn tới mặt đất rung chuyển gây nên động đất, 90%
động đất trên địa cầu là loại động đất nứt gãy. Loại thứ
hai là khi núi lửa phun, do magma tạo áp lực vào vỏ trái
đất, khí ở miệng núi lửa bùng nổ, magma dưới đất giảm
bớt, v.v... đều dẫn đến hiện tượng làm rung chuyển vỏ trái
đất, đó là động đất núi lửa. Trên trái đất, tổng số lần động
đất do núi lửa bùng nổ chiếm 7%. Loại thứ ba là do nắp
đỉnh của các hang nham thạch lớn trong lòng trái đất đột
nhiên bị sập, cũng gây ra rung chuyển mặt đất ở phạm vi
32
hẹp, đó là động đất sập lở. Loại động đất này chiếm tổng
số lần động đất trên toàn thế giới khoảng 3%.
Căn cứ vào lực rung chuyển vỏ trái đất lớn hay nhỏ có
thể phân chia cấp độ động đất, cấp độ động đất càng lớn
thì sức phá hoại càng lớn. Cấp động đất lớn hay nhỏ có liên
quan đến xảy ra động đất sâu hay cạn và lực rung chuyển
lớn hay nhỏ. Khi nguồn phát sinh ra động đất cách mặt
đất cạn, lực rung chuyển lại lớn, thì cấp động đất lớn. Cấp
động đất được biểu thị bằng độ rích-te (Richter). Một lần
động đất chỉ có một cấp động đất nhưng mức độ tàn phá
đối với mặt đất chênh lệch rất lớn, nếu gần trung tâm động
đất th...
Hãy trả lời em tại sao?. T.6 / Phạm Hồng Hải, Nguyễn Kim Lâm d. - T.P. Hồ Chí Minh:
Trẻ, 2009.
180tr. ; 19cm.
1. Khoa học thường thức. 2. Hỏi và đáp. I. Phạm Hồng Hải, Nguyễn Kim Lâm d.
001 -- dc 22
H412
Phạm Hồng Hải - Nguyễn Kim Lân dịch
4
Chương 1
Trái đất,
ngôi nhà của chúng ta
Trái đất là một hành tinh rất nhỏ trong vũ trụ, và cái
hành tinh nhỏ xíu đó chính là ngôi nhà của chúng ta. Con
người nghiên cứu trái đất một cách toàn diện, lợi dụng nó
để “cống hiến” ngày càng nhiều hơn cho con người.
1
Có bao nhiêu thành viên trong
dòng tộc mặt trời?
Trong không gian có vô số vì sao, những vì sao ấy đều
chuyển động không ngừng. Những vì sao chuyển động hút
nhau, quay quanh nhau, như thế sẽ hình thành hàng ngàn,
hàng vạn dòng tộc độc lập, các nhà thiên văn gọi những
dòng tộc đó là hệ thống thiên thể. Dòng tộc mặt trời là
một trong số hàng ngàn hàng vạn dòng tộc trong bầu trời.
Trong dòng tộc mặt trời lấy mặt trời làm trung tâm,
thành viên chủ yếu còn có hành tinh, vệ tinh cùng với sao
băng và sao chổi...
5
Mặt trời lớn vô cùng, tương đương với thể tích của một
triệu ba trăm ngàn trái đất cộng lại. Mặt trời cũng rất nặng,
theo tính toán của các nhà khoa học, khi trọng lượng chung
của dòng tộc mặt trời là 1000, thì trọng lượng của bản thân
mặt trời là 999; có nghĩa là tổng trọng lượng của tất cả các
thành viên ngoài mặt trời ra mới chỉ là 1. Mặt trời lại là một
quả cầu lửa khổng lồ, lúc nào cũng nóng cháy. Nhiệt độ
bề mặt của nó vào khoảng 6000C, nhiệt độ trung tâm có
thể đạt tới 15 triệu độ trở lên. Dòng khí bốc lên mãnh liệt
làm cho ngọn lửa lớp vỏ mặt trời xuất hiện dạng răng cưa.
Hành tinh là những ngôi sao chuyển động chung quanh
mặt trời, thể tích rất nhỏ, nói chung không phát quang, được
ánh sáng mặt trời chiếu sáng và cung cấp nhiệt lượng.
Dòng tộc mặt trời ngoài mặt trời ra còn có 9 hành tinh
lớn, theo thứ tự từ gần đến xa so với khoảng cách của mặt
trời, đó là: sao Thủy, sao Kim, Trái đất, sao Hỏa, sao Mộc, sao
Thổ, sao Thiên Vương, sao Hải Vương và sao Minh Vương
(thường gọi là sao Diêm Vương - Pluto). Tuy vậy, các nhà
thiên văn học sau một hồi nghiên cứu thì đến năm 2006
đã kết luận rằng sao Minh Vương chỉ là một “hành tinh lùn”.
Trái đất là một trong những thành viên lớn của dòng tộc
mặt trời, cách mặt trời tương đối gần, được mặt trời chiếu
sáng, được mặt trời cung cấp nhiệt lượng cũng tương đối
nhiều. Ở giữa quỹ đạo quay của sao Hỏa và sao Mộc còn
có hàng ngàn hàng vạn tiểu hành tinh.
Vệ tinh là những ngôi sao quay chung quanh các hành
6
tinh; mặt trăng là vệ tinh quay chung quanh trái đất, gọi
là vệ tinh của trái đất. Mặt trăng tỏa sáng được là nhờ ánh
sáng của mặt trời phản chiếu. Vệ tinh trong dòng tộc mặt
trời có đến hơn 100 cái.
Sao băng là những khối nhỏ thể rắn đi vào lớp khí quyển
của trái đất, do ma sát bốc cháy phát ra ánh sáng. Những
tinh thể không cháy hết rơi xuống mặt đất được gọi là
vẫn thạch.
Sao chổi là hành tinh càng nhỏ, nó kéo theo một cái
đuôi lớn hình thù giống như cái chổi rất dài, rất dài, tục
gọi là sao chổi. Sao chổi Halley nổi tiếng quay quanh mặt
trời một vòng mất 76 năm.
7
2
Quả địa cầu có công dụng gì?
Chúng ta có thể dùng giấy các tông làm một quả cầu
tròn tiêu biểu cho trái đất, trên bề mặt của mô hình, các
lục địa được tô màu vàng hoặc màu xanh nhạt và các đại
dương tô màu xanh dương, rồi vẽ các quốc gia. Trên quả
cầu tròn đó, ta xuyên vào một các trục, cố định hai đầu
trục lên một cái giá đỡ có thể quay được, đó là quả địa cầu.
Chúng ta quan sát thật cẩn thận các ký hiệu, vị trí tương
đối trên quả địa cầu, nó có thể chỉ dạy cho ta rất nhiều tri
thức. Bản thân địa cầu quay từ Tây sang Đông. Trong quá
trình quay, luôn luôn có hai điểm cố định. Đó là hai điểm
cực. Điểm chỉ về ngôi sao bắc cực là điểm Bắc cực, ngược
lại điểm dưới Bắc cực là điểm Nam cực. Có thể làm một thí
nghiệm nhỏ, đặt một quả cầu da nhỏ lên mặt bàn nhẵn
bóng, cho quả cầu da quay tít, luôn luôn ta nhìn thấy có
một điểm bất động. Cho nên trục quả địa cầu phải đi qua
hai điểm cực Nam, Bắc, điểm Bắc cực quay lên trên.
Trên quả địa cầu còn có tuyến ngang và tuyến dọc, tuyến
dọc nối điểm hai cực gọi là kinh tuyến; kinh tuyến đi qua
địa điểm đặt đài thiên văn Greenwich nước Anh là tuyến
0 độ, sang hướng Đông và hướng Tây mỗi bên 180 độ,
trùng hợp với mặt sau tuyến 0 độ. Tuyến ngang vuông góc
với kinh tuyến là vĩ tuyến, vòng vĩ tuyến lớn nhất là xích
đạo, xác định là 0 độ. Vòng vĩ tuyến từ 0 độ xích đạo càng
8
hướng về hai cực càng
nhỏ dần, điểm hai cực
xác định là vĩ độ 90 độ.
Trên quả địa cầu, kinh
tuyến và vĩ tuyến giao
nhau tạo thành tọa độ
kinh vĩ tuyến. Căn cứ
và tọa độ kinh vĩ có
thể xác định được vị trí chính xác của bất cứ một điểm
nào trên trái đất.
Mặt xích đạo chia địa cầu thành Nam bán cầu và Bắc
bán cầu. Về tập quán, căn cứ vào vòng kinh tuyến 20 độ
kinh Tây và 160 độ kinh Đông chia địa cầu ra thành Đông,
Tây bán cầu.
Bạn có để ý thấy gì không? Trục trên quả địa cầu không
phải thẳng đứng đâu nhé, nó nghiêng đấy. Vì rằng trái đất
trong quá trình quay của mình, giữa mặt quỹ đạo của trái
đất quay chung quanh mặt trời và địa trục có một góc
chếch 66,5 độ, cho nên trục trái đất nghiêng.
Chúng ta thường nhìn thấy địa đồ đều vẽ trên giấy, quả
địa cầu tức là địa đồ vẽ trên cầu tròn. Quả địa cầu cũng
quay như trái đất vậy, thầy cô giáo dùng quả địa cầu để
dạy học, nhờ đó chúng ta hiểu được tương đối dễ dàng rất
nhiều tri thức địa lí, như ngày và đêm, sự nóng lạnh trên
các vĩ độ khác nhau, vị trí của các đại dương và lục địa v.v...
9
3
Trái đất có hình dáng
giống như thế nào?
Nếu như chúng ta ngồi trên phi thuyền vũ trụ nhìn xuống
trái đất ở độ cao mấy vạn, mấy chục vạn kilômét, sẽ thấy
hình dáng trái đất như thế nào? Chỉ nhìn thấy dạng ngôi
sao hình tròn treo lơ lửng trong không trung, bên trên có
biển màu xanh dương và mây màu trắng. Trong trường
hợp không bị áng mây nào che khuất, có thể nhìn thấy
lằn ranh giữa biển và lục địa trên trái đất. Khi quỹ đạo vận
hành của phi thuyền đi gần trái đất, giữa ban ngày quang
đãng, có thể nhìn thấy rất rõ Kim Tự Tháp của Ai Cập cổ.
Nhờ vệ tinh nhân tạo hay phi thuyền vũ trụ mà chúng
ta có rất nhiều bức ảnh về trái đất. Nhìn qua các bức ảnh.
Trái đất là một khối cầu. Qua kết quả tính toán của các
nhà khoa học, trái đất không phải là một quả cầu tròn tròn
3
(a) 1. Địa tâm 2. Bắc cực 3. Nam cực 4. Xích đạo 5. 6378km
(b) 1. Bắc cực 2. Nam cực
10
trịa, nó là một khối hơi tròn có hai cực hơi rút ngắn, bán
kính xích đạo hơi dài ra. Nói cụ thể là bán kính xích đạo
dài hơn bán kính cực 21 kilômét. Nhưng bán kính Nam
Bắc cực cũng không phải là dài như nhau, bán kính Bắc
cực dài hơn bán kính Nam cực là 40mét. Cho nên, trái đất
là một khối tròn có hai cực hơi dẹt, xích đạo hơi gồ lên
giống như một quả lê.
Trái đất bao lớn? Nếu như đi vòng quanh trái đất một
vòng lớn có 40 ngàn cây số. Nếu như một người mỗi ngày đi
50 kilômét, phải 800 ngày mới có thể đi hết một vòng lớn.
Diện tích bề mặt trái đất cũng rất lớn: 510 triệu kilômét
vuông.
Bề mặt trái đất chủ yếu bị đại dương bao bọc, diện tích
361 triệu kilômét vuông, chiếm 71% diện tích bề mặt trái
đất. Diện tích lục địa của bề mặt trái đất là 149 triệu kilômét vuông, chiếm 29% diện tích bề mặt trái đất. Lục địa
chủ yếu phân bố ở Bắc bán cầu, ở phía Bắc xích đạo, đại
dương chủ yếu phân bố ở Nam bán cầu, phía Nam xích đạo.
4
Trái đất quay như thế nào?
Bạn có biết là trái đất đang quay không? Chỉ cần để
tâm quan sát một số hiện tượng là sẽ chứng minh được
trái đất thực sự đang quay. Hàng ngày chúng ta đều nhìn
thấy mặt trời mọc từ hướng Đông và lặn về hướng Tây,
11
đó là kết quả sự quay của trái đất. Giả dụ trái đất không
quay, mặt trời sẽ chiếu sáng mãi ở một mặt trái đất, mặt
được chiếu sáng luôn luôn là ban ngày rất nóng, mặt kia
là ban đêm rất lạnh.
Tại sao chúng ta lại không cảm thấy trái đất quay? Bây
giờ hãy thử làm một thí nghiệm nhỏ: Chúng ta ở trong
một chiếc xe bịt kín hay trong tàu thủy, chỉ cần xe và tàu
chạy rất êm, chúng ta sẽ cảm thấy không động đậy. Khi
chúng ta mở toang cửa sổ xe hay tàu thủy ra, sẽ thấy cảnh
vật ở bên ngoài cửa sổ chạy lui về phía sau, khi xe và tàu
chạy càng nhanh, cảnh vật ngoài cửa sổ chạy lui về phía
sau càng nhanh hơn.
Chúng ta sống ở trên trái đất, vì trái đất có sức hút, trái
đất hút chặt chúng ta trên mặt đất. Ngoài ra, trái đất là một
12
khối tròn rất lớn, chuyển động lại rất chậm, rất êm, lẽ tất
nhiên chúng ta sẽ không cảm thấy trái đất quay.
Do sức hút của trái đất rất lớn lại quay rất chậm và êm,
ở trên nhà cao ta không cảm thấy lúc lắc; cũng vậy, những
thứ như bàn, ghế, tủ lạnh ở trong phòng luôn luôn được
đặt ổn định, không hề nhúc nhích gì cả.
Vì những lí do như vậy mà con người mới có thể sản
xuất và sinh hoạt bình thường, máy móc vận hành bình
thường, máy cày cày đúng giờ giấc, cưỡi xe đạp đi làm bảo
đảm thời gian, người đi đường không bị té ngã.
5
Tại sao có ban ngày và ban đêm?
Để nói rõ tại sao có ban ngày và ban đêm, trước hết
chúng ta hãy làm một thực nghiệm nho nhỏ. Bạn chuẩn
bị cho một cái đèn pin làm mặt trời, một quả bóng da làm
trái đất. Cho quả bóng da quay tít, mặt quả bóng da quay
về phía ánh sáng đèn pin thì sáng, ấy là “ban ngày”, mặt
bên kia ánh sáng đèn pin không rọi được là đêm tối. Quả
cầu da tiếp tục quay, ở mặt ánh sáng đèn pin không rọi
được lúc đầu sẽ quay về phía trước, trở thành ban ngày
và được rọi sáng; còn bề mặt được rọi ánh sáng lúc đầu
quay về phía sau trở thành “ban đêm” không được rọi ánh
sáng. Vị trí của ánh sáng đèn pin không thay đổi, quả cầu
da cứ tiếp tục quay, sẽ xuất hiện hiện tượng ban ngày và
ban đêm không ngừng đan xen nhau.
13
Trái đất là một khối tròn rất lớn, quay không ngừng, tự
nó không phát ra ánh sáng. Khi Đông bán cầu quay về phía
mặt trời, được ánh sáng mặt trời chiếu sáng là ban ngày. Tây
bán cầu do ở về phía sau mặt trời, không được ánh sáng
mặt trời chiếu sáng, tức là ban đêm. Trái đất không ngừng
quay, quay mãi nên ban ngày, ban đêm không ngừng thay
thế cho nhau.
Phía mặt trời mọc là hướng Đông, phía mặt trời lặn là
hướng Tây, phía chỉ về phía sao Bắc Đẩu là hướng Bắc, phía
đối diện với sao Bắc Đẩu là hướng Nam. Trái đất không ngừng
quay quanh trục trái đất theo hướng từ Tây sang Đông, quay
một vòng mất 24 tiếng đồng hồ, là một ngày. Thí dụ hôm
nay mặt trời chiếu sáng đúng ngay chỗ chúng ta ở, là đúng
12 giờ trưa ban ngày, qua ngày hôm sau khi mặt trời chiếu
sáng ngay đúng chúng ta, vẫn là 12 giờ trưa ban ngày, thời
gian đi qua giữa khoảng thời gian đó là 24 tiếng đồng hồ.
Bắc cực
Ánh
sáng
mặt
trời
Nam cực
14
Do thời gian cần thiết cho sự thay đổi giữa ban ngày và
ban đêm tương đối ngắn, nên mặt đất được tăng nhiệt ban
ngày không nóng lắm và ban đêm cũng không đến nỗi lạnh
lắm. Có vậy con người, muông thú, cỏ cây mới sống nổi.
6
Bốn mùa trong năm phân chia
và thay đổi như thế nào?
Trái đất là một trong những thành viên lớn của dòng
tộc mặt trời, không những nó tự quay quanh mình nó,
mà nó còn quay quanh mặt trời. Trái đất quanh quanh
mặt trời một vòng mất 365 ngày 6 giờ, do đó, bình thường
một năm là 365 ngày. Đến năm thứ tư vừa đúng 365 ngày
hãy còn 24 tiếng đồng hồ, thực tế là năm thứ tư phải tăng
thêm một ngày, là 366 ngày, năm đó là năm nhuận.
Khi trái đất quay quanh mặt trời, hướng chếch của trục
trái đất không thay đổi, cực Bắc của trục trái đất luôn luôn
chỉ về hướng sao Bắc Đẩu. Trong một năm, tùy theo vị trí
quay của trái đất khác nhau, vị trí của điểm chiếu sáng
thẳng đứng của mặt trời cũng thay đổi một cách có quy
luật, các nơi trên trái đất tiếp thu nhiệt của ánh sáng mặt
trời cũng theo đó mà thay đổi nhiều ít khác nhau. Do đó,
cũng một địa phương trên trái đất nhưng trong năm có
hiện tượng lạnh và nóng thay đổi cho nhau.
15
Xuân phân 21/3
Quỹ đạo của trái đất
Hướng quay
Đông chí
22/12
Hạ chí
22/6
Hướng quay
Quỹ đạo của trái đất
Thu phân 23/9
Bốn mùa trong năm phân chia như thế nào và bốn mùa
thay đổi như thế nào?
Trước và sau ngày 22 tháng 6 hằng năm là tiết Hạ chí,
mặt trời chiếu thẳng xuống Bắc bán cầu, Bắc bán cầu nhận
nhiệt ánh sáng mặt trời nhiều, khí hậu oi bức, là mùa Hạ.
Nam bán cầu nhận nhiệt ánh sáng mặt trời ít, khí hậu lạnh,
là mùa Đông.
Trước và sau ngày 21 tháng 3 hàng năm là tiết Xuân
phân, mặt trời chiếu thẳng trên xích đạo, Nam bán cầu và
Bắc bán cầu tiếp nhận nhiệt ánh sáng mặt trời như nhau,
Bắc bán cầu là mùa Xuân ôn hòa, Nam bán cầu là mùa Thu
mát dịu. Trước và sau 23 tháng 9 là tiết Thu phân, mặt trời
cũng chiếu thẳng trên xích đạo, Bắc bán cầu là mùa Thu
mát dịu, Nam bán cầu là mùa Xuân ôn hòa.
16
7
Tại sao có ngày cực
và đêm cực?
Vì trái đất vừa quay chung quanh trục của bản thân nó,
lại vừa quay chung quanh mặt trời theo một hướng chếch
không thay đổi, do đó ngày và đêm của các vĩ độ trên trái
đất cũng dài ngắn khác nhau tùy theo mùa. Hàng năm chỉ
có hai ngày 21 tháng 3 (ngày Xuân phân) và ngày 23 tháng
9 (ngày Thu phân), mặt trời chiếu thẳng đứng trên xích đạo,
nên ngày và đêm của tất cả các nơi trên toàn cầu đều dài
ngắn như nhau, đúng 12 tiếng đồng hồ.
Trong nửa năm từ ngày 21 tháng 3 đến ngày 23 tháng
9, mặt trời chiếu thẳng Bắc bán cầu, là nửa năm Hạ. Trong
nửa năm Hạ đó, các vĩ độ Bắc bán cầu đều là ngày dài
đêm ngắn. Do xích đạo hướng Bắc cực, thời gian ban ngày
càng dài tùy theo sự tăng cao của vĩ độ, thời gian ban đêm
ngắn dần. Ngày 22 tháng 6 (ngày Hạ chí), mặt trời chiếu
thẳng tới giới hạn tận cùng phía Bắc là 23,5 độ vĩ Bắc, khu
vực Bắc cực ở về phía Bắc 66,5 độ vĩ Bắc suốt ngày mặt
trời không lặn, chỉ có ban ngày, không có ban đêm, hiện
tượng này được gọi là ngày cực. Nam bán cầu thì ngược
lại hoàn toàn, do xích đạo hướng Nam cực, tùy theo vĩ độ
tăng cao, thời gian ban ngày ngắn lại, thời gian ban đêm
dài ra. Ngày Hạ chí, khu vực Nam cực ở 66,5 độ vĩ Nam trở
về phía Nam suốt ngày là ban đêm, không có ban ngày,
17
Bắc cực
Ánh sáng
mặt trời
Bắc cực
Nam cực
22/6 (ngày Hạ chí
Bắc bán cầu)
22/12 (ngày Đông
chí Bắc bán cầu)
hiện tượng này được gọi là đêm cực. Nam bán cầu là nửa
năm mùa Đông.
Trong nửa năm từ 23 tháng 9 đến 23 tháng 3 năm sau,
mặt trời chiếu thẳng Nam bán cầu, là nửa năm Hạ. Trong
nửa năm này, các vĩ độ Nam bán cầu ngày đều dài và đêm
ngắn lại. Ngày 22 tháng 12, mặt trời chiếu thẳng tới giới
hạn tận cùng phía Nam là 23,5 độ vĩ Nam, phạm vi mặt trời
không lặn ở khu vực phía Nam cực lớn nhất, ở về phía Nam
66,5 độ vĩ Nam xuất hiện hiện tượng ngày cực chỉ có ban
ngày, không có ban đêm. Bắc bán cầu thì hoàn toàn ngược
lại, khu vực Bắc cực ở 66,5 độ vĩ Bắc trở ra Bắc là đêm, suốt
ngày không có mặt trời, xuất hiện hiện tượng đêm cực,
không có ban ngày. Bắc bán cầu là nửa năm mùa Đông.
18
8
Năm vùng trên trái đất
được phân chia như thế nào?
Năm vùng trên trái đất là: nhiệt đới, Bắc ôn đới, Nam ôn
đới, Bắc hàn đới và Nam hàn đới. Người ta phân chia bằng
cách căn cứ vào sự tiếp nhận nhiệt lượng mặt trời nhiều ít
khác nhau ở các bộ phận trên trái đất. Ranh giới của năm
vùng trên trái đất được phân định như thế nào?
a. Nhiệt đới: ở giữa 23,5 độ vĩ Bắc là vùng duy nhất trên
trái đất có thể tiếp nhận được ánh sáng mặt trời chiếu thẳng,
được mặt trời cung cấp nhiệt lượng nhiều nhất, cũng là
vùng nóng nhất toàn cầu, chúng ta gọi nó là vùng nhiệt đới.
b. Hàn đới: ở về phía Bắc 66,5 độ vĩ Bắc đến điểm cực
Bắc, ở phía Nam 66,5 độ vĩ Nam cho đến điểm cực Nam,
hai vùng này hàng năm có một quãng thời gian là đêm
dài triền miên, tức là ngày có mặt trời chiếu rọi nhưng do
ánh sáng mặt trời chiếu chếch rất lớn, mặt đất tiếp nhận
nhiệt lượng rất ít, hầu như không đáng kể, khí hậu suốt
năm rét buốt, chúng ta gọi là vùng hàn đới. Vùng hàn đới
của Bắc bán cầu gọi là Bắc hàn đới, vùng hàn đới của Nam
bán cầu gọi là Nam hàn đới.
c. Ôn đới: 23,5 độ đến 66,5 độ vĩ Bắc, 23,5 độ đến 66,5
độ vĩ Nam, hai vùng này tiếp nhận nhiệt lượng của mặt
trời ít hơn so với vùng nhiệt đới, nhiều hơn vùng hàn đới,
gọi chúng là ôn đới. Ôn đới của Bắc bán cầu gọi là Bắc ôn
đới, ôn đới của Nam bán cầu gọi là Nam ôn đới.
19
Người ta quen gọi vĩ tuyến 23,5 độ vĩ độ Nam, Bắc là
chí tuyến Nam, Bắc, khi mặt trời chiếu thẳng đến tuyến
này thì đi trở về, cho nên còn gọi là tuyến hồi quy. Gọi
vĩ tuyến 66,5 độ vĩ độ Nam, Bắc là vòng cực Nam, Bắc, là
ranh giới xuất hiện ở phạm vi lớn nhất hiện tượng ngày
cực và đêm cực, là vòng tròn lấy điểm cực làm trung tâm,
cho nên gọi nó là vòng cực.
Chúng ta cũng có thể khái quát ranh giới của năm vùng
như sau: chí tuyến Nam, Bắc là tuyến phân ranh nhiệt đới
và ôn đới; vòng cực Nam, Bắc là tuyến phân ranh hàn đới
và ôn đới.
1. Ánh sáng mặt trời
2. Nhiệt đới
3. Ôn đới
đới
13. Chí tuyến bắc
20
5. Bắc cực
6. Nam cực
7. Ôn đới
8. Bắc hàn đới
14. Chí tuyến Nam
9. Nhiệt đới
10. Nam hàn đới
11. Nam ôn đới 4. Hàn
12. Xích đạo
9
Lòng trái đất được
phân tầng như thế nào?
Trái đất cũng giống như một quả trứng gà, có thể chia
làm ba phần: “vỏ trứng”, “lòng trắng trứng” và “lòng đỏ”. Lớp
mỏng ở bề mặt trái đất gọi là vỏ trái đất, lớp ở giữa gọi là
lòng đất, lớp trong cùng là nhân trái đất.
a. Vỏ trái đất: vỏ ngoài của lớp bề mặt trái đất có độ
dày bình quân là 17 kilômét. Bề mặt trái đất có lục địa, đại
dương, núi cao, bình nguyên... độ dày vỏ trái đất ở các nơi
lại không giống nhau. Độ dày bình quân của lục địa là 33
kilômét; vỏ trái đất ở đại dương mỏng nhất, chỉ 6 kilômét;
độ dày ở khu vực cao nguyên núi cao là dày nhất, có thể
tới 60-70 kilômét. Vỏ trái đất chủ yếu là lớp vỏ ngoài rắn
chắc cấu thành bởi nham thạch cứng.
b. Lòng đất: lớp giữa của trái đất, còn gọi là tầng trung
gian. Độ sâu của lòng đất từ vỏ trái đất trở xuống là 2.900
kilômét. Chủ yếu được cấu thành bởi nham thạch chứa sắt
và manhê. Nhiệt độ của tầng này tăng cao, áp lực và mật
độ tăng lớn, nham thạch tương đối mềm, bị chèn ép co
bóp nên dễ dàng thay đổi hình dáng.
c. Nhân trái đất: bộ phận trung tâm của trái đất giống
như hạt của quả vậy. Do nhân trái đất cách bề mặt trái
đất rất rất xa, nên không rõ hết mọi chi tiết của nó. Qua
nghiên cứu rất nhiều năm, các nhà khoa học cho rằng bộ
21
phận trung tâm của trái
Vỏ trái đất
Lòng đất
đất được cấu tạo bởi
kim loại có trọng lượng
nặng như sắt, niken và
các chất khác. Do nhiệt
độ rất cao, áp lực cực
lớn nên các chất hợp
Nhân trái đất
thành nhân trái đất ở
trạng thái lỏng. Nhân
trái đất hiện nay vẫn
còn là bí mật, trong tương lai nhất định các nhà khoa học
sẽ khám phá ra điều bí mật ấy.
Người ta có thể trực tiếp quan sát được đặc trưng của
bộ phận ở ngoài của trái đất, còn không cách nào có thể
trực tiếp nhìn thấy được bên trong của trái đất. giếng khoan
sâu nhất của thế giới là 4.000-5.000 mét, so với trái đất thì
quả là một lớp nhỏ rất rất mỏng mà thôi. Người ta sử dụng
phương pháp gì để tìm hiểu kết cấu bên trong của trái đất?
Phương pháp truyền sóng địa chấn nhân tạo. Tầng nham
thạch, đặt trưng kết cấu khác nhau thì hình sin truyền dẫn
khác nhau, rồi căn cứ vào đặc điểm hình sin để phán đoán
đặc điểm bên trong của trái đất. Phương pháp này còn gián
tiếp và tương đối sơ lược, muốn tìm hiểu tình hình cụ thể
bên trong của trái đất, còn phải đợi các nhà khoa học “đi”
sâu hơn nữa vào lòng trái đất.
22
10
Lớp vòng của bề mặt
trái đất ra sao?
Trái đất cũng giống như một món đồ quý giá, bên ngoài
được bao gói mấy lớp. Lớp vòng bao quanh bề mặt trái
đất lần lượt từ ngoài vào trong là: khí quyển, vòng sinh vật,
vòng nước và vòng nham thạch.
a. Khí quyển: bề mặt trái đất bị bao bọc bởi một lớp vật
chất ở trạng thái khí rất dày, giới hạn phần dưới của nó là
bề mặt trái đất, giới hạn bên trên không có độ cao rõ rệt.
Vòng khí quyển giống như một lớp chắn che phủ trái đất,
giữ cho môi trường trái đất có một nhiệt độ thích nghi. Khí
quyển được tụ tập ở bề mặt trái đất bởi tác dụng sức hút
của trái đất nên càng lên cao không khí càng loãng. Thành
phần không khí chủ yếu là nitơ và oxy, những thành viên
khác trong dòng tộc mặt trời như sao Kim, sao Hỏa thì chủ
yếu là carbonic, hầu như không có oxy.
b. Vòng nước: bao gồm nước biển, nước sông, nước hồ,
nước đầm, nước băng hà của bề mặt lục địa, dưới mặt đất
còn có nước ngầm. Những thứ nước đó cũng giống như
máu trong cơ thể con người, thông qua mặt đất liền với
nhau thành một chỉnh thể, tạo thành vòng nước bao bọc
lấy trái đất. Xã hội loài người không tách khỏi nước được,
động thực vật sinh sống và phát triển cũng không tách rời
khỏi nước. Nước là một trong những nhân tố tích cực nhất
làm thay đổi bộ mặt trái đất.
23
c. Vòng nham thạch: chỉ lớp vỏ cứng thể rắn của trái đất,
vòng nham thạch nhô lên khỏi vòng nước là lục địa thế
giới, vòng nham thạch bị nước biển nhấn chìm là đáy biển
thế giới. Vòng nham thạch cũng là một chỉnh thể, giống
như lớp vỏ ngoài cứng của hạt đào, bao bọc lấy trái đất.
d. Vòng sinh vật: khí quyển, vòng nước và vòng nham
thạch trên trái đất độc lập với nhau, mỗi loại thành hệ
thống, nhưng lại là một chỉnh thể thẩm thấu nhau và tác
dụng lẫn nhau. Như vậy trái đất tạo môi trường cho sinh
vật có thể sinh tồn và phát triển, thay đổi, như ánh sáng
mặt trời, không khí, nước, đất, v.v... Toàn bộ những dải sinh
vật này tồn tại ở trên vòng nham thạch, ở dưới vòng khí
quyển và vòng nước, hình thành nên lớp vòng sinh vật
độc lập liên tục.
Khí quyển
Vòng sinh vật
Vòng nước
Vòng nham thạch
24
Đại dương
11
Lục địa phân thành mấy khối?
Khi chúng ta mở tấm bản đồ thế giới, trước hết chúng
ta thấy diện tích đại dương rất lớn, diện tích lục địa nhỏ;
nhìn kỹ ta thấy phần lớn lục địa phân bố ở Bắc bán cầu,
Nam bán cầu rất nhỏ. Những lục địa ấy bị đại dương chia
thành năm khối đại lục: khối đại lục Á-Âu, khối đại lục châu
Phi, khối đại lục châu Mỹ, khối đại lục châu Đại dương và
khối đại lục châu Nam cực.
Khối đại lục Á-Âu ở Bắc bán cầu, là đại lục lớn nhất.
Hình dáng của khối đại lục này giống như một cái quạt
xòe, châu Á, châu Âu giống như một cái “góc” ở phần Tây
Bắc trên cái quạt xòe.
Khối đại lục châu Phi giống một cái lá cây đại thụ,
trải bằng trên xích đạo, phía Bắc hơi rộng, phía Nam
hẹp lại, tựa sát vào phía Tây Nam của đại lục châu
Á-Âu, làm như Á-Âu không phải là một khối lục địa vậy.
Khối đại lục châu Mỹ dài nhất, hai đầu đại lục lớn, ở giữa
nối bằng một lục địa rất hẹp, rất giống một cái vòng lắc
khổng lồ không quy tắc mấy. Khối đại lục phía Bắc là Bắc
Mỹ châu, khối đại lục phía Nam là Nam Mỹ châu.
Khối đại lục châu Đại dương ở Nam bán cầu, là lục địa
nhỏ nhất, rất giống một hàng không mẫu hạm nổi trên đại
dương, đang chạy về phía Bắc! Diện tích sa mạc trên lục
địa rất lớn, người ở thưa thớt, khu vực dọc theo bờ biển rải
rác vài điểm dân cư, thường gọi là đại lục cằn cỗi.
25
Khối đại lục Nam cực hầu hết ở trong vòng Nam cực,
điểm cực Nam nằm ở chính giữa khối đại lục. Khối lục địa
này do ở vĩ độ cao, suốt năm giá rét không có mùa Hạ,
trên mặt đất hầu như bị một lớp băng tuyết dày che phủ,
người ta gọi nó là “đại lục băng tuyết”.
Có nhà khoa học cho rằng, thuở ngày xửa ngày xưa trên
trái đất chỉ có một khối đại lục khổng lồ. Do trái đất quay và
trên đất liền xuất hiện nhiều dải nứt nẻ, khối đại lục châu Mỹ
tách rời khỏi khối lục địa Âu, Phi, châu Phi cũng tách rời khỏi
châu Âu. Khối đại lục châu Đại dương chạy nhanh nhất nên
cách xa hẳn châu Á và châu Phi. Khối đại lục châu Nam cực
vốn nối liền với châu Phi, châu Nam Mỹ và châu Đại dương,
về sau rồi chúng cũng tách rời nhau, chạy vào trong vòng
Nam cực. Chúng ta gọi hiện tượng ấy là “lục địa trôi nổi”.
Bắc Băng Dương
Khối đại lục
Bắc Mỹ
Khối đại lục Á-Âu
Đại Tây
Dương
Khối
đại lục
Nam Mỹ
Khối đại lục
châu Phi
Ấn Độ Dương
Nam Đại Dương
Khối đại lục Nam Cực
26
Thái
Bình
Dương
Khối đại lục châu
Đại dương
12
Bản đồ được vẽ như thế nào?
Người ta thường xuyên sử dụng bản đồ, đến một chỗ lạ,
việc trước tiên bạn cần làm là mua một tấm bản đồ hướng
dẫn. Khi đọc báo bắt gặp một thông tin mới, thể nào bạn
cũng phải giở bản đồ ra tra tìm vị trí cụ thể. Bạn thấy bản
đồ gắn liền với cuộc sống của chúng ta không?
Bản đồ được vẽ như thế nào?
Trên trái đất có đại dương, lục địa, núi cao và bình nguyên,
có thành thị và nông thôn, đường sắt và đường ôtô, có
nhiều quốc gia... Những đại dương, lục địa, núi cao, quốc
gia... mà ta vừa kể đó đều được gọi là vật thực, dựa vào tỷ
lệ rút nhỏ lại rất rất nhiều lần, rồi dùng các ký hiệu khác
nhau vẽ lên những vị trí tương ứng ở trên giấy, đó là bản
đồ. Để cho người ta xem và hiểu được bản đồ, bên dưới
bản đồ phải vẽ những ký hiệu khác nhau tiêu biểu cho vật
thực trên mặt đất, những cái đó là chỉ dẫn bản đồ, chúng ta
mở bản đồ ra, dựa vào chỉ dẫn là có thể xem được bản đồ.
Bản đồ được người ta dùng máy móc đo đạc trên mặt
đất, rồi thu nhỏ lại rất nhiều lần xong thì vẽ lên giấy. Đo
đạc thực địa tương đối chậm, nhân viên đo đạc khổ lắm,
ngày chịu nóng nực, đêm ở hoang dã, còn phải leo núi,
vượt sông nữa. Hiện nay, người ta chụp hình từ trên máy
bay và vệ tinh nhân tạo, căn cứ vào phim chụp cũng có
thể vẽ bản đồ được. Đỡ khổ hơn nhiều.
27
Bản đồ có nhiều loại như bản đồ thế giới, bản đồ toàn
quốc, bản đồ tỉnh, bản đồ thành phố; có bản đồ địa hình,
bản đồ khoáng sản, bản đồ thủy văn, và bản đồ khí hậu;
còn có bản đồ hàng hải, bản đồ chiến dịch, bản đồ vận
hành vệ tinh...
Bản đồ có rất nhiều công dụng lắm: địa lý, lịch sử, chính
trị... nên ai ai cũng cần dùng đến bản đồ. Khảo sát khoa
học, dã ngoại, đi du lịch xa, máy bay bay trên bầu trời, tàu
thủy đi trên đại dương... đều cần có bản đồ; quy hoạch phát
triển quốc gia, xây dựng hồ nước cỡ lớn, chọn tuyến đường
sắt và đường xá mới... đều cần phải vẽ bản đồ.
28
Chương 2
Mặt đất trồi sụt
không nhìn thấy
Trái đất già ơi là già, cỡ 4 tỷ 600 ngàn năm tuổi, mà lúc
nào nó cũng thay đổi và vận động. Nếu đem so lịch sử của
loài người với lịch sử tiến triển của trái đất và lịch sử tiến
hóa của sinh vật thì có thể nói chỉ như một nháy mắt. Bề
mặt của trái đất thay đổi trồi sụt bởi động lực chủ yếu là
từ trong lòng trái đất, bởi vì trong quá trình vận động, nội
lực của trái đất phân bố đâu có đều, tạo nên hiện tượng
trồi lên và sụp xuống ở bề mặt trái đất. Sự thay đổi trồi
lên trên mặt trái đất diễn ra hết sức chậm chạp, phải tính
bằng vạn năm, con người không cảm giác được và cũng
không nhìn thấy được.
Do nội lực của trái đất phân bố không đều, khi lực tập
trung ở một chỗ nào đó, bề mặt trái đất mỏng không chịu
đựng nổi, sẽ sinh ra sự biến động bề mặt có tính bộc phát
như núi lửa phun, động đất và diện tích lớn nứt nẻ ra v.v...
ấy là những hiện tượng đột biến, người ta có thể thấy được
ở bề mặt trái đất.
29
13
Tại sao có núi lửa trên trái đất?
Ít ai được tận mắt nhìn thấy núi lửa phun, nhưng thấy
núi lửa phun “hoành tráng” qua tivi thì rất nhiều. Trước hết,
từ miệng núi lửa hoặc từ trong kẽ nứt ở chân núi bùng lên
khói trắng, sau đó là khối khổng lồ gồm khí, tro cát và đá
sỏi từ trong miệng núi phun lên không trung, hình thành
một cột khói khổng lồ, một hồi sau trời đất tối sầm, mặt
trời đỏ hồng như trái quýt. Đồng thời, có tiếng sấm nổ
trong lòng đất, mặt đất rung chuyển, liền sau đó là một
khối lượng lớn dung nham trào ra mặt đất. Trong quá trình
núi lửa phun, còn có hiện tượng gió lớn, sấm sét và mưa,
tạo nên một kỳ quan hiếm có.
Tại sao lại có núi lửa trên trái đất? Bề mặt trái đất có
một lớp vỏ rất dày, bình thường magma ở trạng thái dịch
thể bị bao bọc thật chặt trong đó. Nhiệt độ trong lòng trái
đất đặc biệt cao, áp lực lớn, magma chảy qua chảy lại, như
luôn luôn muốn tìm chỗ để chui tọt ra ngoài. Có một số
nơi vỏ trái đất vận động tương đối mãnh liệt, làm nứt nẻ,
vênh vẹo hoặc chèn ép mạnh, vỏ trái đất tương đối mỏng
và yếu. Chỗ nào vỏ trái đất càng yếu mỏng thì tiếp nhận
áp lực của nội lực càng mạnh, magma sẽ thừa thắng xông
ra từ chỗ đó, tạo nên núi lửa phun.
Một khi núi lửa đã phun, magma nóng chảy từ miệng
núi lửa phun ra sẽ trào đi khắp bốn phía, tạo nên từng
30
dòng từng dòng “sông lửa”. Trong lúc chảy, magma sẽ dìm
ngập làng mạc, nhà cửa; những dòng dung nham lớn có
thể nuốt chửng thành phố, thị trấn, làm đổ sập cầu cống;
dung nham chảy theo các dòng sông, làm vỡ đê đập, tạo
thành tai nạn ngập lụt nghiêm trọng.
Có núi lửa phun một lần, sau khi dung nham lạnh đông
tạo thành ngọn núi nhỏ hình chóp, đó là núi lửa chết. Có núi
lửa cách vài năm phun trở lại một lần, dung nham chồng
chất rất cao, tạo thành đỉnh núi hình chóp rất cao, núi Phú
Sĩ của Nhật Bản được hình thành như vậy đó, nên được
gọi là núi lửa sống.
Khu vực núi lửa phun có nhiều suối nước nóng, nhiệt
độ suối nước nóng cao nhất có thể lên tới 1000C hoặc hơn.
31
14
Động đất là gì?
Động đất là gì? Hiện tượng rung động của đất đai là
động đất.
Trên trái đất thường xảy ra động đất, có thể nói ngày
nào cũng có động đất, lúc nào cũng xảy ra động đất. Số
lần xảy ra động đất rất nhiều nhưng hầu hết các rung động
nhẹ đó thì chúng ta lại không cảm nhận được. Sự rung
chuyển nhẹ mặt đất như vậy bình quân cứ hai phút xảy
ra một lần. Những trận động đất mạnh mà chúng ta cảm
thấy được có sức tàn phá rất lớn, gây ra tổn thất về người
và tài sản, động đất lớn như vậy trên thế giới mỗi năm xảy
ra khoảng 20 lần.
Tại sao lại xảy ra động đất? Loại thứ nhất là do vỏ trái
đất bị nóng không đều, chỗ nóng chỗ nguội nên sẽ bị
giãn nở và co rút, vỏ trái đất bị biến dạng thậm chí gãy
đứt, dẫn tới mặt đất rung chuyển gây nên động đất, 90%
động đất trên địa cầu là loại động đất nứt gãy. Loại thứ
hai là khi núi lửa phun, do magma tạo áp lực vào vỏ trái
đất, khí ở miệng núi lửa bùng nổ, magma dưới đất giảm
bớt, v.v... đều dẫn đến hiện tượng làm rung chuyển vỏ trái
đất, đó là động đất núi lửa. Trên trái đất, tổng số lần động
đất do núi lửa bùng nổ chiếm 7%. Loại thứ ba là do nắp
đỉnh của các hang nham thạch lớn trong lòng trái đất đột
nhiên bị sập, cũng gây ra rung chuyển mặt đất ở phạm vi
32
hẹp, đó là động đất sập lở. Loại động đất này chiếm tổng
số lần động đất trên toàn thế giới khoảng 3%.
Căn cứ vào lực rung chuyển vỏ trái đất lớn hay nhỏ có
thể phân chia cấp độ động đất, cấp độ động đất càng lớn
thì sức phá hoại càng lớn. Cấp động đất lớn hay nhỏ có liên
quan đến xảy ra động đất sâu hay cạn và lực rung chuyển
lớn hay nhỏ. Khi nguồn phát sinh ra động đất cách mặt
đất cạn, lực rung chuyển lại lớn, thì cấp động đất lớn. Cấp
động đất được biểu thị bằng độ rích-te (Richter). Một lần
động đất chỉ có một cấp động đất nhưng mức độ tàn phá
đối với mặt đất chênh lệch rất lớn, nếu gần trung tâm động
đất th...
 





