Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam
Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam
GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG NGỮ VĂN 8- THỪA THIÊN HUẾ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: NGUYỄN VIẾT CUNG
Ngày gửi: 11h:22' 06-04-2024
Dung lượng: 226.0 KB
Số lượt tải: 164
Nguồn:
Người gửi: NGUYỄN VIẾT CUNG
Ngày gửi: 11h:22' 06-04-2024
Dung lượng: 226.0 KB
Số lượt tải: 164
Số lượt thích:
0 người
Trường THCS Phong Bình
Chương trình địa phương Ngữ văn 8
Năm học 2023- 2024
CHỦ ĐỀ:
VĂN HỌC THỪA THIÊN HUẾ TỪ NĂM 1900 ĐẾN NĂM 1945
Thực hiện 6 tiết
TIẾT 1,2,3:
THƠ CA THỪA THIÊN HUẾ TƯ NĂM 1900 ĐẾN NĂM 1945
I. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
1. Kiến thức:
- Nhận biết được một số đặc điểm thơ ca Thừa Thiên Huế tư năm 1900 đến 1945
- Biết trình bày cảm nhận, suy nghĩ cá nhân về một số giá trị cơ bản của thơ ca Thừa Thiên
Huế.
-Có ý thức tìm hiểu thơ ca của quê hương; biết yêu quý, tự hào, gìn giữ và phát huy thơ
caThừa Thiên Huế.
2. Năng lực:
- Năng lực chung: năng lực tự quản bản thân, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác.
- Năng lực chuyên biệt: biết cách đọc thơ, ngâm thơ, cảm nhận về thơ
3. Phẩm chất:
-Chăm học, có ý thức tìm hiểu các loại hình thơ ca Thừa Thiên Huế
II. THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU:
1. Chuẩn bị của giáo viên:
- Kế hoạch bài học
- Học liệu: Đồ dùng dạy học, phiếu học tập, bảng phụ, tranh minh họa.
2. Chuẩn bị của học sinh:
- Soạn bài, trả lời câu hỏi ở nhà trước.
III. TIẾN TRÌN DẠY HỌC:
HOẠT ĐỘNG 1: KHỞI ĐỘNG
* Mục tiêu:
- Tạo tâm thế hứng thú cho HS.
- Kích thích HS tìm hiểu thơ ca Thừa Thiên Huế.
* Nhiệm vụ: HS nghe câu hỏi của GV
* Phương thức thực hiện: HĐ cá nhân, HĐ cả lớp.
* Yêu cầu sản phẩm: HS suy nghĩ trả lời.
* Cách tiến hành:
- GV chuyển giao nhiệm vụ:
Thành tựu thơ ca xứ Huế giai đoạn 1900 – 1945,
chủ yếu là thành tựu của thơ mới. Đó cũng là thời điểm
diễn ra nhiều quá trình, như có sự thay đổi về tư duy
sáng tạo, sự đổi mới cả nội dung lẫn hình thức của thơ
và cả của chủ thể sáng tạo, đưa đến sự thành công và
khẳng định vị thế của thơ mới trong tiến trình hiện đại
hóa văn học thế kỷ XX. Trong đó, đáng ghi nhận là sự
phát triển đông đảo về đội ngũ, sự hội tụ và lan tỏa để
Huế trở thành một trong ba trung tâm của cả nước, sau
Hà Nội và Sài Gòn. Nói đến văn chương xứ Huế, không
thể không nói đến thơ và nói đến thơ Huế, không thể
không quan tâm đến giai đoạn hưng thịnh thời này.
Giai đoạn 1900 – 1945 là giai đoạn có “một thời đại
mới trong thi ca” xuất hiện. Cùng với Sài Gòn và Hà
Giáo viên : Nguyễn Khoa Khánh Hòa
Trường THCS Phong Bình
Chương trình địa phương Ngữ văn 8
Năm học 2023- 2024
Nội, xứ Huế ở thời điểm này trở thành một trong ba
trung tâm báo chí, xuất bản của cả nước, nên không thể
đứng ngoài hoặc không chịu tác động chi phối bởi
những âm vang thời đại.
Kể tên những một số bài thơ t, nhà thơ ở Thừa Thiên
Huế mà em biết? Hs trả lời
- Gv đánh giá cho điểm
HOẠT ĐỘNG 2: HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI
B1: Khái quát về thơ caThừa Thiên Huế từ năm
1900 đến năm 1945
* Mục tiêu: Giúp HS nắm được những nét cơ bản về
các giai đoạn phát triển của thơ ca Thừa Thiên Huế,
một số tác giat tiêu biểu
* Nhiệm vụ: HS hoàn thành yêu cầu vào phiếu học tập.
* Phương thức thực hiện: hoạt động nhóm.
* Yêu cầu sản phẩm: phiếu học tập, câu trả lời của HS.
* Cách tiến hành:
1. GV chuyển giao nhiệm vụ:
Hãy cho biết thơ ca Thừa Thiên Huế được phân ra mấy
giai đoạn?
Nêu đặc điểm của từng giai đoạn
Kể tiên một số tác giả tiêu biểu
2.Thực hiện nhiệm vụ:
- HS: Làm việc cá nhân, sau đó thống nhất kết quả
trong nhóm
- GV: Quan sát, lựa chọn sản phẩm tốt nhất.
* Dự kiến sản phẩm: Phân ra 2 giai đoạn
- Từ năm 1900- 1932
+ Đặc điểm: Tiếp nối truyền thống thơ trung đai; đổi
mới về nội dung, cảm xúc
+ Thể loại: song thất lục bát, thất ngôn bát cú, tứ tuyệt...
+ Tác giả tiêu biểu: Nguyễn Khoa Vy, Ưng Bình Thúc
Giạ Thị, Đạm Phương
- Tư năm 1932- 1945
I. Khái quát về thơ caThừa
Thiên Huế từ năm 1900 đến
năm 1945 :
1. Các giao đoạn phát triển
a. Giai đoạn từ 1900 đến năm
1932
+ Đặc điểm: Tiếp nối truyền
thống thơ trung đai; đổi mới về
nội dung, cảm xúc
+ Thể loại: song thất lục bát, thất
ngôn bát cú, tứ tuyệt...
+ Tác giả tiêu biểu: Nguyễn
Khoa Vy, Ưng Bình Thúc Giạ
Thị, Đạm Phương
b. Giai đoạn từ năm 1932 đến
1945
+ Đặc điểm: Thơ mói ra đời
không bị gò bó bởi những phép
tắc, niêm luật truyền thống. Cái
tôi ca nhân được thể hiện cụ thể.
Đây cũng là giai đoạn thơ ca các
mạng ra đời
+ Thể loại: đa dạng và phong
phú hơn
+ Tác giả tiêu biểu: Phạm Văn
Dật, Thúc Tề, Tố Hữu...
2. Một số tác giả tiêu biểu
+ Đặc điểm: Thơ mói ra đời không bị gò bó bởi những - Đạm Phương (1881 – 1947),
phép tắc, niêm luật truyền thống. Cái tôi ca nhân được Ưng Bình Thúc Giạ Thị (1877 –
thể hiện cụ thể. Đây cũng là giai đoạn thơ ca các mạng 1961), Thảo Am Nguyễn Khoa
Vi (1885 – 1973)… Ưng Bình
ra đời
và Nguyễn Khoa, Tố Hữu
+ Thể loại: đa dạng và phong phú hơn
+ Tác giả tiêu biểu: Phạm Văn Dật, Thúc Tề, Tố Hữu... với Từ ấy: Tố Hữu (1920 –
2002)…
- Đạm Phương (1881 – 1947), Ưng Bình Thúc Giạ Thị
(1877 – 1961), Thảo Am Nguyễn Khoa Vi (1885 –
1973)… Ưng Bình và Nguyễn Khoa, Tố Hữu với Từ
Giáo viên : Nguyễn Khoa Khánh Hòa
Trường THCS Phong Bình
Chương trình địa phương Ngữ văn 8
Năm học 2023- 2024
ấy: Tố Hữu (1920 – 2002)…
3. Báo cáo kết quả: HS lên bảng trình bày kết quả
chuẩn bị của nhóm, các nhóm khác nghe.
4. Đánh giá kết quả
- Học sinh nhận xét, bổ sung, đánh giá
- Giáo viên nhận xét, đánh giá
->Giáo viên chốt kiến thức và ghi bảng
HOẠT ĐỘNG 3: LUYỆN TẬP
* Mục tiêu: HS biết hiểu được kiến thức về thơ ca và
một số tác giả
* Nhiệm vụ: HS nghe câu hỏi trả lời.
* Phương thức thực hiện: HĐ cá nhân.
* Yêu cầu sản phẩm: Câu trả lời của HS; vở ghi.
* Cách tiến hành:
Bài tập 1:
1. GV chuyển giao nhiệm vụ cho HS:
- Yêu cầu học sinh đọc bài thơ: Khi con tu hú gọi bầy
của Tố Hữu và trả lời các câu hỏi SGK
2. HS tiếp nhận và thực hiện nhiệm vụ:
3. Dự kiến sản phẩm
Câu 1: Bài thơ được viết theo thể lục bát
Câu 2:Cảm nhận trời đát vèo hè bằng nhiều giác
quan:thính giác, thị giác, vị giác, tri giác
- Từ chỉ âm thanh:kêu, gọi, ngân
- Từ chỉ màu sắc:vàng, nắng đào
- Từ chỉ vị giác: chín, ngọt
Câu 3: Nhân vật trữ tình trong văn bản chính là tác
giả trong hoàn cảnh bị giam cầm. Tiếng chi tu hú
chính là lời mời gọi thiết tha con người đến với không
gian của tự do.
Câu 4:tham khảo bài viết
Bài thơ được viết khi Tố Hữu mới bị tù được 3 tháng và
tuổi mới 19, mới hoạt động cách mạng chưa đầy 3 năm.
Người tù ở đây bị cách biệt với thế giới bên ngoài về
mọi mặt, trừ âm thanh. Cuộc sống như dồn vào phạm vi
âm thanh.
Cô đơn thay là cảnh thân tù,
Tai mở rộng và lòng sôi rạo rực Tôi lắng nghe tiếng đời
lăn náo nức
(Tâm tư trong tùTố Hữu)
Có thể nói âm thanh là mối dây liên hệ duy nhất đối với
cuộc đời, và mỗi âm thanh là một tín hiệu gợi phác về
Giáo viên : Nguyễn Khoa Khánh Hòa
II. Luyện tập
Bài tập 1: Khi con tu hú
Câu 1: Bài thơ được viết theo
thể lục bát
Câu 2:Cảm nhận trời đát vèo hè
bằng nhiều giác quan:thính giác,
thị giác, vị giác, tri giác
- Từ chỉ âm thanh:kêu, gọi, ngân
- Từ chỉ màu sắc:vàng, nắng đào
- Từ chỉ vị giác: chín, ngọt
Câu 3: Nhân vật trữ tình trong
văn bản chính là tác giả trong
hoàn cảnh bị giam cầm. Tiếng
chi tu hú chính là lời mời gọi
thiết tha con người đến với
không gian của tự do.
Câu 4:tham khảo bài viết
Trường THCS Phong Bình
Chương trình địa phương Ngữ văn 8
cuộc sống bao la và thân phận tù tội. Khi con tu hú là
bài thơ thể hiện niềm yêu đời, khát vọng tự do, muốn
tung phá, giải phóng của nhà thơ.
Nhan đề bài thơ mang đậm vị trữ tình, giàu khêu gợi,
liên tưởng. Nó không nói tư tưởng, không nêu sự việc
mà nói về một thời điểm, một thời gian. Khi con tu hú...
bài thơ cũng không chỉ nói về thời gian, mà nói về
không gian trong một tiếng chim, nỗi lòng khi nghe
tiếng chim.
Tu hú là loài chim ăn trái cây, hót vào mùa hè, mùa quả
chín. Tiếng chim tu hú trí' thành âm thanh của mùa hè
(như tiếng ve sầu):
Rồi tiếng chim tu hú Vang mãi những ngày hè!
(Anh Thơ)
Tu hú bắt đầu kêu từ tháng tư dương lịch và kêu suốt
cho đến khi tác giả làm bài thơ này, chim vẫn đang kêu.
Sáu dòng bài thơ miêu tả một mùa hè đầy sức sống
được đánh thức dậy trong tâm trí tác giả khi nghe tiếng
chim kêu.
Đây là cảnh tưởng tượng, nhưng là cảnh tượng tái hiện
những cảm xúc mùa hè rất trẻ trung.
Tất cả như đều đang hứa hẹn: Lúa chiêm đang chín, trái
cây ngọt dần, ngô lỗ đỗ hạt vàng, ve dang bắt đầu kêu.
Nắng hè đã rất tươi. Tất cả chưa có gì kết thúc. Tất cả
như tuổi trẻ của tác giả mới bắt đầu.
Tất cả lại đều rất đẹp, đầy màu sắc rực rỡ: bắp vàng,
nắng đào, trời xanh.
Tất cả đều được hưởng một cuộc sống tự do, tự nhiên.
Đặc biệt là bầu trời càng rộng, càng cao. Diều sáo lộn
nhào tầng không đây đó. Đây có thể là chim diều, chim
sáo (?), có thể là con diều sáo bằng nan giấy trẻ con thả
chơi trên bầu trời... Hiểu thế nào thì vẫn là cảnh tượng
tự do của mùa hè trẻ trung, đầy sức sống bay nhảy, tung
tẩy.
Bốn dòng còn lại là nỗi niềm của nhà thơ.
Tiếng chim tu hú là biểu tượng mùa hè. Nó thức dậy
mùa hè trong lòng nhà thơ, đặc biệt thức tỉnh ý thức về
cuộc sống đẹp vừa mới bắt đầu, đầy hứa hẹn mà đã bị
giam cầm một cách uổng phí. Còn gì đau đớn hơn, uất
ức hơn khi cuộc sống vừa mới bắt đầu đã bị chặn lại?
Giáo viên : Nguyễn Khoa Khánh Hòa
Năm học 2023- 2024
Trường THCS Phong Bình
Chương trình địa phương Ngữ văn 8
Năm học 2023- 2024
Đau đớn, khổ sở hơn, khi người ta không thể quên được
nỗi uất hận của mình. Âm thanh là loại tín hiệu không
gì ngăn chặn được. Tín hiệu bằng màu sắc, ánh sáng
đều tác động một cách hạn chế.
Người ta chỉ cần nhắm mắt ngủ là không trông thấy gì.
Trái lại, tín hiệu âm thanh có thể lan xa và ngay cả khi
ngủ nó vẫn tác động. Tiếng chim tu hú, từ một tiếng
chim, âm thanh hay, đẹp trở thành âm thanh nhức nhối,
thúc giục hành động.
Mở đầu bằng tiếng chim tu hú và kết thúc cũng bằng
tiếng chim tu hú, nhưng trong tiếng chim, tình cảm nhà
thơ đã có một biến chuyển mạnh mẽ, từ cảm thụ thiên
nhiên đến khao khát hành động. Bài thơ kết thúc mở
bằng tiếng chim kêu giục giã những hành động sắp tới.
Bài tập 2:
1. GV chuyển giao nhiệm vụ cho HS:
- Yêu cầu học sinh đọc văn bản: NỖI LÒNG CỦA TÀO
AM và trả lời các câu hỏi sgk
2. HS tiếp nhận và thực hiện nhiệm vụ:
3. Dự kiến sản phẩm
Câu 1: B
Câu 2: A
Câu 3:D
Câu 4: B
Câu 5: C
Câu 6:rất vui mừng, tham gia nhiệt tình
Câu 7: dự mít tin, cướp chính quyền, theo các đoàn
tuần hành mà không biết mệt
HOẠT ĐỘNG 4: VẬN DỤNG
* Mục tiêu: HS biết vận dụng kiến thức đã học áp dụng
vào cuộc sống thực tiễn.
* Nhiệm vụ: HS vận dụng kiến thức đã học về văn bản
để trả lời câu hỏi của GV.
* Phương thức thực hiện: HĐ cá nhân
* Sản phẩm: Câu trả lời của HS
* Cách tiến hành:
1. Gv chuyển giao nhiệm vụ cho HS:
- Lập bảng thống kê các nhà thơ tiêu biểu ở Thừa Thiên Huế từ năm
1900- 1945 theo mẫu sau:
Tên tác
giả
Các bài thơ
tiêu biểu
Nội dung
và hình
thức
Giai đoạn
- Tìm cac sự kiện lịch sử đã ảnh hưởng đến phong
Giáo viên : Nguyễn Khoa Khánh Hòa
Bài tập 2:
Câu 1: B
Câu 2: A
Câu 3:D
Câu 4: B
Câu 5: C
Câu 6:rất vui mừng, tham gia
nhiệt tình
Câu 7: dự mít tin, cướp chính
quyền, theo các đoàn tuần
hành mà không biết mệt
Trường THCS Phong Bình
Chương trình địa phương Ngữ văn 8
Năm học 2023- 2024
trào thơ ca tại Thừa Thiên Huế trong thời gian từ
năm 1900 đến năm 1945
- Tên một số nhà thơ Thừa Thiên Huế trong thời gian
từ năm 1900 đến năm 1945 đã được đặt tên cho
đường phố và trường học. Giới thiều về đường phố và
trường học ấy.
2. HS tiếp nhận và thực hiện nhiệm vụ.
+ Nghe yêu cầu
+ Thu tập thông tin
+ Báo cáo kết quả theo từng cá nhân.
3. Dự kiến sản phầm
.- Những tác giả người Huế
Phan Văn Dật (1907 – 1987), quê gốc ở làng Đạo Đầu, Triệu Phong, Quảng Trị, nhưng sinh
ra ở làng Phú Xuân, nay là phường Phú Hội, thành phố Huế, trong một gia đình có mối quan
hệ họ ngoại với hoàng tộc, ông là cháu nội bốn đời của bà An Trường công chúa, con vua
Minh Mạng (1791 – 1840). Lúc nhỏ, học chữ Hán, lớn lên ông theo học chữ quốc ngữ, tốt
nghiệp bằng Thành chung (lớp 9) Trường Quốc Học Huế (1927), vào làm Thư ký ngạch
trước bạ tại Đà Nẵng rồi chuyển ra Huế. Từ đó, ông vừa làm công chức, vừa dạy học ở các
Trường Đồng Khánh, Quốc Học Huế. Năm 1951, làm Chủ sự trước bạ Huế, được cử đi tu
nghiệp ở trường Trước bạ Quốc gia Lyon, Pháp, đến 1952 trở về. Từ đó, đến năm 1976 là
giảng viên Viện Hán học, Đại học Văn khoa và Cao đẳng Mỹ thuật Huế. Là người có thiên
hướng văn chương từ nhỏ, 6 tuổi Phan Văn Dật đã dành dụm tiền mua sách báo, 14 tuổi có
thơ in báo khắp ba miền như các báo Thực nghiệp dân báo, Nam Phong tạp chí, Khuyến học
(Hà Nội), Thần kinh tạp chí, Tràng an (Huế), Rạng đông (Sài Gòn)… Cuộc đời cầm bút hơn
hai phần ba thế kỷ của ông, ngoài tiểu thuyết Diễm Dương trang (1935), ông chỉ cho in một
tập thơ là Bâng khuâng (1936) và tập bản thảo Những ngày vàng lụa, tập hợp những bài thơ
ông sáng tác từ sau 1936, được in rải rác các báo và các tập tuyển.
Phan Văn Dật là nhà thơ đa sầu, đa cảm mang đậm tâm tình hoài cổ, mộng mơ. Mọi biến
đổi dữ dội trong đời sống chính trị xã hội của đất nước, dường như không mảy may tác
động vào tâm hồn ông. Chỉ riêng cái tên của tác phẩm như Bâng khuâng, Những ngày vàng
lụa, cũng đủ nói lên nỗi ám ảnh của tác giả về quá khứ, hay nói cách khác, những ngày sinh
ra và lớn lên trong phủ công chúa, đã ghi lại dấu ấn quan trọng và chi phối hồn thơ ông. Đặc
biệt, tên các bài thơ trong tập như Về lối cũ, Ngày lụt năm ấy, Nhớ mong, Ngậm ngùi, Tiếc
rẻ, Tình suông, Dáng dấp, Phút chia tay, Tiễn đưa… càng khẳng định hồn thơ hoài cổ của
ông, như chính những câu làm đề từ cho tập Bâng khuâng ông viết:
Đời tôi những phút thương buồn giận
Những phút nồng yêu hớn hở mầng
Lẽo đẽo mỗi lần tôi tưởng lại
Mỗi lần đều để tôi bâng khuâng
Khác với nhiều thi nhân xứ Huế cùng thời, Phan Văn Dật ít tả cảnh mà thiên về tả tình, cái
tình hoài niệm ấy thường gửi qua một câu chuyện tự sự. Ở ông không có sự cháy lên như
Xuân Diệu mà cũng không phải là sự gợi lại những mối tình mộc mạc, thôn dã kiểu Nguyễn
Bính, mà là thứ tình cảm tiếc nuối, nhân hậu, hướng về những gì đã qua đi không trở lại,
như một đôi vệt sáng le lói còn đọng lại mãi trong tâm hồn. Có thể thấy rõ, Phan Văn Dật là
người có tâm hồn thuộc về quá khứ. Ông là người đứng ở đường biên giữa cũ và mới, tuy
Giáo viên : Nguyễn Khoa Khánh Hòa
Trường THCS Phong Bình
Chương trình địa phương Ngữ văn 8
Năm học 2023- 2024
sớm tiếp thu văn học cổ Trung Quốc và chịu ảnh hưởng văn học cổ điển Pháp, cũng như có
tiếp nhận ít nhiều tư tưởng tự do dân chủ phương Tây, nhưng ông vẫn cột chặt ngòi bút của
mình theo đạo đức truyền thống, song không quá cổ hủ, đồng thời cũng không buông thả,
phóng túng. Tư tưởng đó thể hiện trong cảm quan hiện thực: ông nhìn nhận cái hôm nay
bằng con mắt của người hôm qua. Ông nhìn cuộc đời đổi thay, nhưng bản thân mình không
dám tham gia vào cuộc đổi thay đó.
Như đã nói, Phan Văn Dật làm thơ trước khi có phong trào thơ mới xuất hiện (1932). Cả ba
bài thơ trong tập Bâng khuâng được Hoài Thanh tuyển vào Thi nhân Việt Nam đều được
ông sáng tác từ năm 1927 (Tiễn đưa, Bi xuân nương, Nàng con gái họ Dương) và về thi
pháp, ông vẫn trung thành với các thể thơ truyền thống như thất ngôn, ngũ ngôn, Đường
luật, lục bát và song thất lục bát. Nghĩa là, ông vẫn một mực theo lối thơ cũ truyền thống,
không dám bước qua ngưỡng cửa thênh thang của thể thơ phá cách, thơ tự do, nhưng cái
mới của ông, chính là ở nội dung mỹ cảm, ví như ở bài lục bát Nàng con gái họ Dương sau
đây:
Năm xưa ta lại chốn này
Hồ thu nước mới chau mày với thu
Nàng Dương mười bốn hái dâu
Hoa non đâu đã biết sầu vì thu
Năm sau ta đến chốn này
Nàng Dương tóc đã đến ngày cài trâm
Chiều xuân hoen hoẻn trăng rằm
Con ong lén gởi thơ thầm ngoài hiên
Qua năm ta lại chốn này
Ngựa xe chen bước dấu giày in sân
Phòng khuê cửa đóng mấy tầng
Chim xanh mỏi cánh mấy lần về không
Rồi năm ta lại chốn này
Nàng Dương mở cửa suốt ngày đợi tin
Thềm ba khách vắng rêu in
Cành hoa năm ngoái ai vin năm này?
Năm nay ta lại chốn này
Lầu không chim vắng, chim bay đằng nào?
Hỏi người có biết tăm hao
Giáo viên : Nguyễn Khoa Khánh Hòa
Trường THCS Phong Bình
Chương trình địa phương Ngữ văn 8
Năm học 2023- 2024
Láng giềng rằng có cô nào đâu đây!
Ngay cả về nội dung đề tài, thơ Phan Văn Dật cũng ít nhiều níu giữ truyền thống, ở cái phần
tốt đẹp nhất trong đời sống tinh thần dân tộc: “Giữa luồng không khí mới thúc giục người ta
thoát ly gia đình, Phan Văn Dật đã dám ca tụng cái tình cha con, anh em; sách của người,
người đề tặng song thân, tưởng ngày nay cũng là điều ít có”12. Thơ ông không mượt mà,
lãng mạn, không rực rỡ, lung linh, không réo rắt, hùng tráng, không làm người đọc bồi hồi
ngây ngất, nhưng vẫn có sức vẫy gọi người đọc, bởi chất tinh tế, nhạy cảm, quyến luyến từ
bên trong câu chữ, thôi thúc và lôi cuốn tâm hồn người đọc với một niềm đam mê khó
cưỡng, ngay cả đối với lớp người đọc trẻ tuổi sau này. Từ năm 1968, trở về sau cho đến cuối
đời, người ta không thấy có thơ Phan Văn Dật xuất hiện trên báo chí ở các đô thị miền Nam
nữa. Đó là một trong những khúc quanh của cuộc đời, buộc nhà thơ phải im hơi lặng tiếng,
nhưng ông vẫn giữ một tấm lòng trong sạch đối với văn chương, một tình yêu quê hương
đất nước, một nhân cách trí thức toàn vẹn với sự thanh cao, đài các của xứ sở quê ông.
Thu Hồng, quê làng Thần Phù, Hương Thủy, nhưng sinh ra ở Đà Nẵng và học ở đây hết bậc
tiểu học rồi ra học trung học ở Trường Đồng Khánh Huế. Tác phẩm đã xuất bản là tập Sóng
thơ (1940). Mấy nghìn năm phong kiến, người phụ nữ học để biết chữ đã khó, làm được thơ
hay càng khó hơn, nhất là trong chốn “dinh lũy” của thành trì phong kiến. Viết về nhà thơ
nữ xuất thân từ hoàng phái có tên đầy đủ là Tôn Nữ Thu Hồng này, Hoài Thanh viết: “Ở xứ
này, nói đến những thiếu nữ làm thơ người ta thường mỉm cười. Hình như thơ là một cái gì
to chuyện lắm. Thu Hồng đã tránh được cái mỉm cười mai mỉa ấy vì người rất bình dị, rất
hồn nhiên, không lúc nào ra vẻ muốn làm cho to chuyện”
13. Thế giới nghệ thuật trong Sóng thơ là sự trải lòng của cô nữ sinh Đồng Khánh với cỏ
cây, non nước một cách dịu dàng (Êm đềm, Mảnh hồn thơ, Tơ lòng với đẹp…), với giọng
điệu trẻ trung nhí nhảnh, không quá hiện sinh một cách gấp gáp như Xuân Diệu “nhanh với
chứ, vội vàng lên với chứ!” mà là “muốn sống hoài trong thời thơ ấu” như Hoài Thanh đã
từng dẫn chứng:
Mầm chán nản chớ len vào niên thiếu
Chớ len vào sớm quá, tội em mà!
Em nghe như thời ấy vẫn còn xa
Em chầm chậm để để mong còn xa mãi
Hãy là hoa, xin hãy khoan là trái
Hoa nồng hương mà trái lắm khi chua
Một giọng điệu nghệ thuật luôn xuất phát từ một quan niệm nghệ thuật tương ứng, rồi từ
quan niệm nghệ thuật sẽ làm nảy sinh những quy luật hình thức, tức là hệ thống thi pháp
nhất định nhằm thể hiện thế giới tâm hồn thành câu, thành chữ. Trong thế giới tâm hồn của
cô nữ sinh trong trắng, hồn nhiên cứ muốn mình là đứa trẻ nhí nhảnh, lúc nào cũng tràn
ngập niềm vui, kể cả lúc làm thơ cũng cứ thả cho niềm vui tung tăng trên trang giấy trắng,
ngập tràn vây chặt tâm hồn khi mới đứng trước ngưỡng cửa của tình yêu, đến nỗi cô không
giải thích nỗi cảm xúc của mình, cô “Chỉ biết hôm xưa một buổi chiều/ Cùng người trò
chuyện chẳng bao nhiêu/ Người đi, tôi thấy sao mong nhớ/ Và cảm quanh mình nỗi tịch
liêu”. Hóa ra, con người ta không dễ gì chỉ dừng mãi ở hoa, dù không muốn cũng đến lúc
hoa phải trở thành trái, cũng như sau niềm vui có lúc cũng giăng mắc nỗi buồn, không ai có
thể cưỡng lại được. Hãy nghe nữ thi sĩ của chúng ta thuở ấy quan niệm về thơ, về nghệ thuật
Giáo viên : Nguyễn Khoa Khánh Hòa
Trường THCS Phong Bình
Chương trình địa phương Ngữ văn 8
Năm học 2023- 2024
luôn gắn với niềm vui, “hoàn toàn vui”, mà đúng thôi, nghệ thuật mà chỉ có nỗi buồn, thì ai
tìm đến nghệ thuật làm chi, nhưng cuộc sống vốn thế, có niềm vui thì liền theo đó là nỗi
buồn, “có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai”:
Em muốn thơ em hoàn toàn vui
Đừng sầu lá rụng, khóc hoa rơi
Đừng than thở, tiếc ngày qua chóng
Ước nguyện đành không đạt nguyện rồi
Ô hay! Đâu thoát khỏi triền miên
Hồn lặng trong mê, ý dậy phiền
Đời ít khi vui, hoài cảm xúc
Thương sen lẫn lộn sống trên bùn!
Cho nên nhiều lúc, muốn thơ cười
Chợt nghĩ quanh mà bút bỗng rơi!
Ôm mảnh hồn thơ, dường oán hận
Em dùng thổn thức, dãi nên lời
(Mảnh hồn thơ)
Trong thơ Thu Hồng không chỉ bắt gặp cảm xúc “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu” của
Xuân Diệu, mà còn nhiều vương tơ với người đồng hương Thanh Tịnh, khi Thanh Tịnh có
Tơ trời với tơ lòng, thì Thu Hồng dường như nối dài thêm ra Tơ lòng với đẹp, nhưng cả hai
đều không hề có sự lặp lại, mà được nâng cấp theo một hướng khác, thể hiện sự trong trẻo,
hồn nhiên, dịu dàng đầy nữ tính. Ở những bài thơ thể hiện cảm xúc trước thiên nhiên, sông
nước của xứ Huế của bà, cũng gần với âm hưởng của người phát hiện ra Huế, Đẹp và thơ là
thi sĩ Nam Trân, như những bức tranh chấm phá, màu sắc và đường nét chưa thật sự hoàn
chỉnh, nhưng cũng thể hiện được nét tinh tế, linh hoạt và quý phái đầy nữ tính của một tâm
hồn Huế:
Đêm. Trăng rạng rỡ soi
Thuyền ai thong thả trôi
Đàn hát chảy theo nước
Không gian bỗng nô cười!
Về mặt thi pháp, phải thừa nhận rằng, ở ngay thời buổi thơ mới vừa định hình, Thu Hồng là
cây bút trẻ hết sức năng động, linh hoạt. Bà đã vận dụng nhiều thể thơ, trong đó có cả truyền
thống và hiện đại, như thơ lục bát, năm chữ, bảy chữ, tám chữ… đều đem lại những thành
công nhất định, khẳng định tính ưu việt của thơ mới trong tiến trình hiện đại hóa thơ ca và
quá trình lịch sử văn chương của dân tộc.
Giáo viên : Nguyễn Khoa Khánh Hòa
Trường THCS Phong Bình
Chương trình địa phương Ngữ văn 8
Năm học 2023- 2024
Tố Hữu với Từ ấy: Tố Hữu (1920 – 2002), tên thật là Nguyễn Kim Thành, người làng Phù
Lai, Quảng Thọ, Quảng Điền, học trường Quốc học, sớm giác ngộ cách mạng, gia nhập
Đảng Cộng sản Đông Dương từ năm 17 tuổi (1937), cũng là năm ông bắt đầu sự nghiệp thơ
ca. Từ đó, con đường thơ và con đường cách mạng của ông trở nên song hành: tham gia
Thành ủy Huế, bị bắt đi tù qua các nhà lao Huế, Lao Bảo, Quy Nhơn, Buôn Ma Thuột,
Đăkglei, vượt ngục về làm Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa, Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa Thừa
Thiên-Huế 1945, Bí thư Xứ ủy Trung kỳ, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Bộ Chính trị,
Phó Thủ tướng, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng… Là tác giả của nhiều tập thơ gắn liền
với lịch sử cách mạng của dân tộc như Từ ấy (1946), Việt Bắc (1954), Gió lộng (1961), Ra
trận (1972), Việt Nam máu và hoa (1977), Một tiếng đờn (1992)… nhưng quan trọng nhất
vẫn là tập thơ đầu tay Từ ấy, được sáng tác từ trong phong trào Thanh niên Dân chủ Đông
Dương (1936 – 1939), được công bố trên các báo chí công khai, mở đầu cho dòng thơ ca
cách mạng theo quan điểm của tư tưởng marxisme và đường lối của Đảng Cộng sản Đông
Dương.
Tố Hữu đến với thơ ca vào cuối những năm ba mươi của thế kỷ XX, sau đội ngũ các nhà
nho chí sĩ bỗng trở nên lạc lõng trước thời cuộc, trong sự bước tiếp của một thế hệ làm thơ
yêu nước mới, như Sóng Hồng (Tin tưởng, Là thi sĩ), Xuân Thủy (Không giam nỗi trí óc,
Trong nhà tù), Lê Đức Thọ (Xuân chiến sĩ), Hoàng Văn Thụ (Gửi bạn), Trần Huy Liệu
(Qua thăm gốc ổi, Khách chiến bại với nàng xuân nữ), Trần Minh Tước (Hội nghị thuế,
Những giấc mơ trong ngục), Trần Mai Ninh (Nhớ máu, Tình sông núi)… Sáng tác của họ
thể hiện tư tưởng của chủ nghĩa yêu nước trên lập trường tiểu tư sản (những năm 1920) rồi
sau đó là vô sản (những năm 1930). Về hình thức, họ chưa có điều kiện và thời gian gọt dũa
theo phong trào thơ mới, mà chủ yếu là các thể thơ truyền thống, bởi tuy họ có tiếp thu Tây
học nhưng phần lớn vẫn chịu ảnh hưởng của Hán học. So với phong trào thơ mới, dòng thơ
cách mạng có sự gần gũi nhiều hơn với dòng thơ của các chí sĩ đầu thế kỷ. Thế nhưng, trong
số họ, không phải tất cả đều xa lạ với cái mới, đều “bảo thủ” trước sự phát triển của hình
thức nghệ thuật của phong trào thơ mới, tiêu biểu là trường hợp Tố Hữu. Trong bài tựa viết
cho tập Từ ấy (tái bản năm 1959), Đặng Thai Mai cho rằng: “Người của thời đại, Tố Hữu
không thể không đọc, không thưởng thức thơ mới trong phần thành công của nó… không
thể không tiếp thu ít nhiều ảnh hưởng của các nhà thi sĩ đồng thời”
14. Xuân Diệu cũng đã từng chỉ ra một cách xác đáng rằng: “Tố Hữu đã dùng những yếu tố
của phong trào thơ lãng mạn đang thịnh hành đương thời, đem vào thơ của mình và diễn đạt
cái tinh thần cách mạng lối mới, cách mạng vô sản… cái phong cách lãng mạn kia, tức là
cảm xúc đầy rẫy, đồng thời với việc cá thể hóa”. Điểm khác biệt giữa thơ mới và Từ ấy là
thế giới quan và nhân sinh quan của chủ thể sáng tạo. Điều đó không đối lập với việc sử
dụng đầy rẫy cảm xúc và cá thể hóa trong phương thức điển hình. Trong Câu chuyện về thơ,
chính Tố Hữu cũng đã từng thừa nhận rằng: “Tôi cũng thích nhạc điệu và hơi thơ của Thế
Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận… Trong tâm hồn các anh lúc đó,
tôi tìm thấy những nỗi băn khoăn, đau buồn của những người cùng thế hệ, đòi hỏi tự do, ước
mơ hạnh phúc, tuy các anh chưa tìm thấy lối ra, và nhiều khi rơi vào chán nản”15. Vì vậy,
khác với các nhà thơ cách mạng khác, với Từ ấy, Tố Hữu đã đưa thơ ca cách mạng phát
triển đến một cấp độ mới đáng ghi nhận, đó là sự thống nhất giữa cái mới trong nội dung tư
tưởng và cái mới của hình thức nghệ thuật. Giáo sư Phong Lê có lý khi đề ra khái niệm này:
“Từ ấy là thơ mới, nhưng không phải là thơ mới lãng mạn mà là thơ mới cách mạng”
15.Từ ấy là sự tập hợp những bài thơ Tố Hữu làm trong khoảng gần mười năm (1937 –
1946), cũng là thời gian tác giả có tuổi đời từ mười bảy đến hai mươi sáu, và chàng trai
mười bảy tuổi bắt đầu bằng những cảm xúc phơi phới dưới ánh ban mai:
Giáo viên : Nguyễn Khoa Khánh Hòa
Trường THCS Phong Bình
Chương trình địa phương Ngữ văn 8
Năm học 2023- 2024
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lý chói qua tim
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim
Tập thơ được chia thành ba phần: Máu lửa, Xiềng xích, Giải phóng. Máu lửa được viết vào
khoảng 1937 – 1939, thời kỳ nổ ra cuộc đấu tranh dân chủ, tác giả đã đồng cảm với những
người lao khổ, đứng về phía các dân tộc bị áp bức, căm hờn và lên án lối sống xa hoa ích
kỷ, bóc lột của giai cấp thống trị, thể hiện nhân sinh quan cách mạng, lập trường và chủ
nghĩa lạc quan, tin tưởng vào xu thế chiến thắng tất yếu của sự nghiệp cách mạng do Đảng
lãnh đạo và cả cách mạng thế giới dưới ánh sáng của tư tưởng marxisme. Tinh thần chung
của cả phần này là sự giác ngộ lý tưởng của một thanh niên trong tiến trình vận động cách
mạng và vận động để hình thành một nền thơ ca mới, thơ ca cách mạng.
Xiềng xích là sừng sững chân dung một người chiến sĩ trẻ trước sự tra tấn tù đày, giam cầm
hết nhà tù này đến nơi lưu đày khác: các lao Thừa Thiên (1939 – 1940), Lao Bảo (1940 –
1941), Quy Nhơn (1941 – 1942), đến các vùng rừng thiêng nước độc như “Đường lên xứ lạ
Kontum/ Đường lên Đaksut, Đakpao/ Đường lên đỉnh núi Đaklay/ Phất phơ gió lạnh, sương
đầy vắng chim”… thật khó nói hết nỗi gian truân vất vả mà người tù trẻ tuổi phải chịu đựng
và trải qua trong hơn ba năm bị giam cầm trong ngục tù đế quốc, vẫn giữ vững tấm lòng
kiên trung và chí khí chiến đấu, luôn tự dặn lòng mình: “Khóc là nhục. Rên, hèn. Van, yếu
đuối”. Xiềng xích là thơ của người chiến sĩ dặn lòng quyết không bao giờ nản chí khuất
phục trước quân thù. Đồng thời, cùng với sự tự nhắc nhở mình và thắp lửa trong lòng đồng
đội, đồng chí, thơ ông lúc này vẫn là thơ tranh đấu, thơ hành động, thơ kêu gọi, đoàn kết
mọi người vì một lý tưởng sáng rực rỡ trong tương lai:
Quyết chiến đấu! Nào ta liên hiệp lại
Hỡi tù nhân khốn nạn của bần cùng
Ngày mai đây tất cả sẽ là chung
Tất cả sẽ là vui và ánh sáng!
Phần Giải phóng chỉ có mười mấy bài, tác giả làm từ khi vượt ngục Đăkglei về với đồng
bằng, làm Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa, rồi cùng nhân dân cướp chính quyền… nội dung tư
tưởng và âm hưởng trữ tình khác hẳn với những phần thơ trước. Ở đây, sự biến đổi rất rõ cả
về nội dung mỹ cảm và thi pháp biểu hiện, kéo gần ông hơn với các nhà thơ mới, mặc dù về
nhân sinh quan, thế giới quan và vũ trụ quan vẫn còn trong tư thế lưỡng đối. Trên đường
thoát ly chiến đấu, nhà thơ – chiến sĩ đã bắt đầu nhìn thấy viễn cảnh tương lai với tầm nhìn
xa rộng: “Chân trời lui mãi lan lan rộng/ Hy vọng tràn lên đồng mênh mông”. Tình yêu giai
cấp, lòng yêu nước, sự tin tưởng đối với nhân dân và cách mạng, bấy nhiêu đề tài đã được
thể hiện trong những thể thơ, những hình tượng thơ mới mẽ, sáng lung linh, thông qua ngôn
ngữ, lời nói giản dị, gần gũi và gắn bó với nhân dân, trong sự yêu thương, đùm bọc:
Tháng ngày chát cổ cơm khoai sắn
Rách rưới lều che tạm gió sương
Hiểu nhau rồi, hiểu lắm bạn ơi !…
Giáo viên : Nguyễn Khoa Khánh Hòa
Trường THCS Phong Bình
Chương trình địa phương Ngữ văn 8
Năm học 2023- 2024
Đặng Thai Mai từng ví Từ ấy là “bó hoa lửa lộng lẫy, nồng nàn” kết tinh của một cuộc cách
mạng vĩ đại, làm thay đổi số phận dân tộc, tiến trình lịch sử của đất nước và cả tiến trình
hiện đại hóa của thơ ca, trong đó có sự giao thoa giữa thơ ca yêu nước của các chí sĩ và thơ
ca yêu nước cách mạng, giữa thơ mới lãng mạn và thơ mới cách mạng, giữa chân dung chủ
thể là người thi sĩ và chiến sĩ cách mạng. Từ ấy không phải là đỉnh cao trong sự nghiệp thơ
ca của Tố Hữu, nó chỉ là con mưa đầu mùa nhưng nung nấu và ươm đầy những tia chớp.
Những tác giả đến Huế, viết về Huế
Nam Trân (1907 – 1967), tên thật là Nguyễn Học Sỹ, quê làng Phú Thứ Thượng, Đại
Quang, Đại Lộc, Quảng Nam. Thuở nhỏ, học chữ Hán, lớn lên ra học trường Quốc học Huế,
rồi học trường Bưởi (trường Bảo hộ) Hà Nội. Tốt nghiệp tú tài, về làm Tham tá tòa Khâm
sứ Huế, rồi được bổ nhiệm làm Trợ lý Bộ lại, đồng thời viết cho các báo Tràng an, Sông
Hương, Phong hóa, Nam Phong tạp chí, Văn học tạp chí… Tham gia kháng chiến chống
Pháp, công tác ở Ủy ban hành chính kháng chiến tỉnh Quảng Nam, Chánh văn phòng Ủy
ban hành chính kháng chiến Liên khu Năm, Chủ tịch Hội Văn nghệ kháng chiến Liên khu
Năm. Sau 1954, tập kết ra Bắc, làm Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa I
(1957). Năm 1959, chuyển sang Viện Văn học, phụ trách tiểu ban dịch tập thơ chữ Hán
Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh. Trong suốt cuộc đời của ông, ngoài thơ dịch chữ Hán
(Thơ Đường, Thơ Tống, Kinh thi…), ông chỉ có một tập thơ duy nhất ra đời tại xứ Huế, lại
là người phát hiện ra Huế, Đẹp và thơ trong văn học hiện đại.
Làm nên tên tuổi Nam Trân chỉ vỏn vẹn 50 bài thơ viết về cảnh vật và con người xứ Huế,
được công bố rải rác trên các báo như Nam Phong tạp chí, Văn học tạp chí, Phong hóa…
sau đó mới được tập hợp thành Huế, Đẹp và thơ (1939). Ra đời trong không khí u buồn và
cô đơn của phong trào thơ mới, nhưng Huế, Đẹp và thơ đã vượt ra khỏi vòng sinh quyển của
...
Chương trình địa phương Ngữ văn 8
Năm học 2023- 2024
CHỦ ĐỀ:
VĂN HỌC THỪA THIÊN HUẾ TỪ NĂM 1900 ĐẾN NĂM 1945
Thực hiện 6 tiết
TIẾT 1,2,3:
THƠ CA THỪA THIÊN HUẾ TƯ NĂM 1900 ĐẾN NĂM 1945
I. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
1. Kiến thức:
- Nhận biết được một số đặc điểm thơ ca Thừa Thiên Huế tư năm 1900 đến 1945
- Biết trình bày cảm nhận, suy nghĩ cá nhân về một số giá trị cơ bản của thơ ca Thừa Thiên
Huế.
-Có ý thức tìm hiểu thơ ca của quê hương; biết yêu quý, tự hào, gìn giữ và phát huy thơ
caThừa Thiên Huế.
2. Năng lực:
- Năng lực chung: năng lực tự quản bản thân, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác.
- Năng lực chuyên biệt: biết cách đọc thơ, ngâm thơ, cảm nhận về thơ
3. Phẩm chất:
-Chăm học, có ý thức tìm hiểu các loại hình thơ ca Thừa Thiên Huế
II. THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU:
1. Chuẩn bị của giáo viên:
- Kế hoạch bài học
- Học liệu: Đồ dùng dạy học, phiếu học tập, bảng phụ, tranh minh họa.
2. Chuẩn bị của học sinh:
- Soạn bài, trả lời câu hỏi ở nhà trước.
III. TIẾN TRÌN DẠY HỌC:
HOẠT ĐỘNG 1: KHỞI ĐỘNG
* Mục tiêu:
- Tạo tâm thế hứng thú cho HS.
- Kích thích HS tìm hiểu thơ ca Thừa Thiên Huế.
* Nhiệm vụ: HS nghe câu hỏi của GV
* Phương thức thực hiện: HĐ cá nhân, HĐ cả lớp.
* Yêu cầu sản phẩm: HS suy nghĩ trả lời.
* Cách tiến hành:
- GV chuyển giao nhiệm vụ:
Thành tựu thơ ca xứ Huế giai đoạn 1900 – 1945,
chủ yếu là thành tựu của thơ mới. Đó cũng là thời điểm
diễn ra nhiều quá trình, như có sự thay đổi về tư duy
sáng tạo, sự đổi mới cả nội dung lẫn hình thức của thơ
và cả của chủ thể sáng tạo, đưa đến sự thành công và
khẳng định vị thế của thơ mới trong tiến trình hiện đại
hóa văn học thế kỷ XX. Trong đó, đáng ghi nhận là sự
phát triển đông đảo về đội ngũ, sự hội tụ và lan tỏa để
Huế trở thành một trong ba trung tâm của cả nước, sau
Hà Nội và Sài Gòn. Nói đến văn chương xứ Huế, không
thể không nói đến thơ và nói đến thơ Huế, không thể
không quan tâm đến giai đoạn hưng thịnh thời này.
Giai đoạn 1900 – 1945 là giai đoạn có “một thời đại
mới trong thi ca” xuất hiện. Cùng với Sài Gòn và Hà
Giáo viên : Nguyễn Khoa Khánh Hòa
Trường THCS Phong Bình
Chương trình địa phương Ngữ văn 8
Năm học 2023- 2024
Nội, xứ Huế ở thời điểm này trở thành một trong ba
trung tâm báo chí, xuất bản của cả nước, nên không thể
đứng ngoài hoặc không chịu tác động chi phối bởi
những âm vang thời đại.
Kể tên những một số bài thơ t, nhà thơ ở Thừa Thiên
Huế mà em biết? Hs trả lời
- Gv đánh giá cho điểm
HOẠT ĐỘNG 2: HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI
B1: Khái quát về thơ caThừa Thiên Huế từ năm
1900 đến năm 1945
* Mục tiêu: Giúp HS nắm được những nét cơ bản về
các giai đoạn phát triển của thơ ca Thừa Thiên Huế,
một số tác giat tiêu biểu
* Nhiệm vụ: HS hoàn thành yêu cầu vào phiếu học tập.
* Phương thức thực hiện: hoạt động nhóm.
* Yêu cầu sản phẩm: phiếu học tập, câu trả lời của HS.
* Cách tiến hành:
1. GV chuyển giao nhiệm vụ:
Hãy cho biết thơ ca Thừa Thiên Huế được phân ra mấy
giai đoạn?
Nêu đặc điểm của từng giai đoạn
Kể tiên một số tác giả tiêu biểu
2.Thực hiện nhiệm vụ:
- HS: Làm việc cá nhân, sau đó thống nhất kết quả
trong nhóm
- GV: Quan sát, lựa chọn sản phẩm tốt nhất.
* Dự kiến sản phẩm: Phân ra 2 giai đoạn
- Từ năm 1900- 1932
+ Đặc điểm: Tiếp nối truyền thống thơ trung đai; đổi
mới về nội dung, cảm xúc
+ Thể loại: song thất lục bát, thất ngôn bát cú, tứ tuyệt...
+ Tác giả tiêu biểu: Nguyễn Khoa Vy, Ưng Bình Thúc
Giạ Thị, Đạm Phương
- Tư năm 1932- 1945
I. Khái quát về thơ caThừa
Thiên Huế từ năm 1900 đến
năm 1945 :
1. Các giao đoạn phát triển
a. Giai đoạn từ 1900 đến năm
1932
+ Đặc điểm: Tiếp nối truyền
thống thơ trung đai; đổi mới về
nội dung, cảm xúc
+ Thể loại: song thất lục bát, thất
ngôn bát cú, tứ tuyệt...
+ Tác giả tiêu biểu: Nguyễn
Khoa Vy, Ưng Bình Thúc Giạ
Thị, Đạm Phương
b. Giai đoạn từ năm 1932 đến
1945
+ Đặc điểm: Thơ mói ra đời
không bị gò bó bởi những phép
tắc, niêm luật truyền thống. Cái
tôi ca nhân được thể hiện cụ thể.
Đây cũng là giai đoạn thơ ca các
mạng ra đời
+ Thể loại: đa dạng và phong
phú hơn
+ Tác giả tiêu biểu: Phạm Văn
Dật, Thúc Tề, Tố Hữu...
2. Một số tác giả tiêu biểu
+ Đặc điểm: Thơ mói ra đời không bị gò bó bởi những - Đạm Phương (1881 – 1947),
phép tắc, niêm luật truyền thống. Cái tôi ca nhân được Ưng Bình Thúc Giạ Thị (1877 –
thể hiện cụ thể. Đây cũng là giai đoạn thơ ca các mạng 1961), Thảo Am Nguyễn Khoa
Vi (1885 – 1973)… Ưng Bình
ra đời
và Nguyễn Khoa, Tố Hữu
+ Thể loại: đa dạng và phong phú hơn
+ Tác giả tiêu biểu: Phạm Văn Dật, Thúc Tề, Tố Hữu... với Từ ấy: Tố Hữu (1920 –
2002)…
- Đạm Phương (1881 – 1947), Ưng Bình Thúc Giạ Thị
(1877 – 1961), Thảo Am Nguyễn Khoa Vi (1885 –
1973)… Ưng Bình và Nguyễn Khoa, Tố Hữu với Từ
Giáo viên : Nguyễn Khoa Khánh Hòa
Trường THCS Phong Bình
Chương trình địa phương Ngữ văn 8
Năm học 2023- 2024
ấy: Tố Hữu (1920 – 2002)…
3. Báo cáo kết quả: HS lên bảng trình bày kết quả
chuẩn bị của nhóm, các nhóm khác nghe.
4. Đánh giá kết quả
- Học sinh nhận xét, bổ sung, đánh giá
- Giáo viên nhận xét, đánh giá
->Giáo viên chốt kiến thức và ghi bảng
HOẠT ĐỘNG 3: LUYỆN TẬP
* Mục tiêu: HS biết hiểu được kiến thức về thơ ca và
một số tác giả
* Nhiệm vụ: HS nghe câu hỏi trả lời.
* Phương thức thực hiện: HĐ cá nhân.
* Yêu cầu sản phẩm: Câu trả lời của HS; vở ghi.
* Cách tiến hành:
Bài tập 1:
1. GV chuyển giao nhiệm vụ cho HS:
- Yêu cầu học sinh đọc bài thơ: Khi con tu hú gọi bầy
của Tố Hữu và trả lời các câu hỏi SGK
2. HS tiếp nhận và thực hiện nhiệm vụ:
3. Dự kiến sản phẩm
Câu 1: Bài thơ được viết theo thể lục bát
Câu 2:Cảm nhận trời đát vèo hè bằng nhiều giác
quan:thính giác, thị giác, vị giác, tri giác
- Từ chỉ âm thanh:kêu, gọi, ngân
- Từ chỉ màu sắc:vàng, nắng đào
- Từ chỉ vị giác: chín, ngọt
Câu 3: Nhân vật trữ tình trong văn bản chính là tác
giả trong hoàn cảnh bị giam cầm. Tiếng chi tu hú
chính là lời mời gọi thiết tha con người đến với không
gian của tự do.
Câu 4:tham khảo bài viết
Bài thơ được viết khi Tố Hữu mới bị tù được 3 tháng và
tuổi mới 19, mới hoạt động cách mạng chưa đầy 3 năm.
Người tù ở đây bị cách biệt với thế giới bên ngoài về
mọi mặt, trừ âm thanh. Cuộc sống như dồn vào phạm vi
âm thanh.
Cô đơn thay là cảnh thân tù,
Tai mở rộng và lòng sôi rạo rực Tôi lắng nghe tiếng đời
lăn náo nức
(Tâm tư trong tùTố Hữu)
Có thể nói âm thanh là mối dây liên hệ duy nhất đối với
cuộc đời, và mỗi âm thanh là một tín hiệu gợi phác về
Giáo viên : Nguyễn Khoa Khánh Hòa
II. Luyện tập
Bài tập 1: Khi con tu hú
Câu 1: Bài thơ được viết theo
thể lục bát
Câu 2:Cảm nhận trời đát vèo hè
bằng nhiều giác quan:thính giác,
thị giác, vị giác, tri giác
- Từ chỉ âm thanh:kêu, gọi, ngân
- Từ chỉ màu sắc:vàng, nắng đào
- Từ chỉ vị giác: chín, ngọt
Câu 3: Nhân vật trữ tình trong
văn bản chính là tác giả trong
hoàn cảnh bị giam cầm. Tiếng
chi tu hú chính là lời mời gọi
thiết tha con người đến với
không gian của tự do.
Câu 4:tham khảo bài viết
Trường THCS Phong Bình
Chương trình địa phương Ngữ văn 8
cuộc sống bao la và thân phận tù tội. Khi con tu hú là
bài thơ thể hiện niềm yêu đời, khát vọng tự do, muốn
tung phá, giải phóng của nhà thơ.
Nhan đề bài thơ mang đậm vị trữ tình, giàu khêu gợi,
liên tưởng. Nó không nói tư tưởng, không nêu sự việc
mà nói về một thời điểm, một thời gian. Khi con tu hú...
bài thơ cũng không chỉ nói về thời gian, mà nói về
không gian trong một tiếng chim, nỗi lòng khi nghe
tiếng chim.
Tu hú là loài chim ăn trái cây, hót vào mùa hè, mùa quả
chín. Tiếng chim tu hú trí' thành âm thanh của mùa hè
(như tiếng ve sầu):
Rồi tiếng chim tu hú Vang mãi những ngày hè!
(Anh Thơ)
Tu hú bắt đầu kêu từ tháng tư dương lịch và kêu suốt
cho đến khi tác giả làm bài thơ này, chim vẫn đang kêu.
Sáu dòng bài thơ miêu tả một mùa hè đầy sức sống
được đánh thức dậy trong tâm trí tác giả khi nghe tiếng
chim kêu.
Đây là cảnh tưởng tượng, nhưng là cảnh tượng tái hiện
những cảm xúc mùa hè rất trẻ trung.
Tất cả như đều đang hứa hẹn: Lúa chiêm đang chín, trái
cây ngọt dần, ngô lỗ đỗ hạt vàng, ve dang bắt đầu kêu.
Nắng hè đã rất tươi. Tất cả chưa có gì kết thúc. Tất cả
như tuổi trẻ của tác giả mới bắt đầu.
Tất cả lại đều rất đẹp, đầy màu sắc rực rỡ: bắp vàng,
nắng đào, trời xanh.
Tất cả đều được hưởng một cuộc sống tự do, tự nhiên.
Đặc biệt là bầu trời càng rộng, càng cao. Diều sáo lộn
nhào tầng không đây đó. Đây có thể là chim diều, chim
sáo (?), có thể là con diều sáo bằng nan giấy trẻ con thả
chơi trên bầu trời... Hiểu thế nào thì vẫn là cảnh tượng
tự do của mùa hè trẻ trung, đầy sức sống bay nhảy, tung
tẩy.
Bốn dòng còn lại là nỗi niềm của nhà thơ.
Tiếng chim tu hú là biểu tượng mùa hè. Nó thức dậy
mùa hè trong lòng nhà thơ, đặc biệt thức tỉnh ý thức về
cuộc sống đẹp vừa mới bắt đầu, đầy hứa hẹn mà đã bị
giam cầm một cách uổng phí. Còn gì đau đớn hơn, uất
ức hơn khi cuộc sống vừa mới bắt đầu đã bị chặn lại?
Giáo viên : Nguyễn Khoa Khánh Hòa
Năm học 2023- 2024
Trường THCS Phong Bình
Chương trình địa phương Ngữ văn 8
Năm học 2023- 2024
Đau đớn, khổ sở hơn, khi người ta không thể quên được
nỗi uất hận của mình. Âm thanh là loại tín hiệu không
gì ngăn chặn được. Tín hiệu bằng màu sắc, ánh sáng
đều tác động một cách hạn chế.
Người ta chỉ cần nhắm mắt ngủ là không trông thấy gì.
Trái lại, tín hiệu âm thanh có thể lan xa và ngay cả khi
ngủ nó vẫn tác động. Tiếng chim tu hú, từ một tiếng
chim, âm thanh hay, đẹp trở thành âm thanh nhức nhối,
thúc giục hành động.
Mở đầu bằng tiếng chim tu hú và kết thúc cũng bằng
tiếng chim tu hú, nhưng trong tiếng chim, tình cảm nhà
thơ đã có một biến chuyển mạnh mẽ, từ cảm thụ thiên
nhiên đến khao khát hành động. Bài thơ kết thúc mở
bằng tiếng chim kêu giục giã những hành động sắp tới.
Bài tập 2:
1. GV chuyển giao nhiệm vụ cho HS:
- Yêu cầu học sinh đọc văn bản: NỖI LÒNG CỦA TÀO
AM và trả lời các câu hỏi sgk
2. HS tiếp nhận và thực hiện nhiệm vụ:
3. Dự kiến sản phẩm
Câu 1: B
Câu 2: A
Câu 3:D
Câu 4: B
Câu 5: C
Câu 6:rất vui mừng, tham gia nhiệt tình
Câu 7: dự mít tin, cướp chính quyền, theo các đoàn
tuần hành mà không biết mệt
HOẠT ĐỘNG 4: VẬN DỤNG
* Mục tiêu: HS biết vận dụng kiến thức đã học áp dụng
vào cuộc sống thực tiễn.
* Nhiệm vụ: HS vận dụng kiến thức đã học về văn bản
để trả lời câu hỏi của GV.
* Phương thức thực hiện: HĐ cá nhân
* Sản phẩm: Câu trả lời của HS
* Cách tiến hành:
1. Gv chuyển giao nhiệm vụ cho HS:
- Lập bảng thống kê các nhà thơ tiêu biểu ở Thừa Thiên Huế từ năm
1900- 1945 theo mẫu sau:
Tên tác
giả
Các bài thơ
tiêu biểu
Nội dung
và hình
thức
Giai đoạn
- Tìm cac sự kiện lịch sử đã ảnh hưởng đến phong
Giáo viên : Nguyễn Khoa Khánh Hòa
Bài tập 2:
Câu 1: B
Câu 2: A
Câu 3:D
Câu 4: B
Câu 5: C
Câu 6:rất vui mừng, tham gia
nhiệt tình
Câu 7: dự mít tin, cướp chính
quyền, theo các đoàn tuần
hành mà không biết mệt
Trường THCS Phong Bình
Chương trình địa phương Ngữ văn 8
Năm học 2023- 2024
trào thơ ca tại Thừa Thiên Huế trong thời gian từ
năm 1900 đến năm 1945
- Tên một số nhà thơ Thừa Thiên Huế trong thời gian
từ năm 1900 đến năm 1945 đã được đặt tên cho
đường phố và trường học. Giới thiều về đường phố và
trường học ấy.
2. HS tiếp nhận và thực hiện nhiệm vụ.
+ Nghe yêu cầu
+ Thu tập thông tin
+ Báo cáo kết quả theo từng cá nhân.
3. Dự kiến sản phầm
.- Những tác giả người Huế
Phan Văn Dật (1907 – 1987), quê gốc ở làng Đạo Đầu, Triệu Phong, Quảng Trị, nhưng sinh
ra ở làng Phú Xuân, nay là phường Phú Hội, thành phố Huế, trong một gia đình có mối quan
hệ họ ngoại với hoàng tộc, ông là cháu nội bốn đời của bà An Trường công chúa, con vua
Minh Mạng (1791 – 1840). Lúc nhỏ, học chữ Hán, lớn lên ông theo học chữ quốc ngữ, tốt
nghiệp bằng Thành chung (lớp 9) Trường Quốc Học Huế (1927), vào làm Thư ký ngạch
trước bạ tại Đà Nẵng rồi chuyển ra Huế. Từ đó, ông vừa làm công chức, vừa dạy học ở các
Trường Đồng Khánh, Quốc Học Huế. Năm 1951, làm Chủ sự trước bạ Huế, được cử đi tu
nghiệp ở trường Trước bạ Quốc gia Lyon, Pháp, đến 1952 trở về. Từ đó, đến năm 1976 là
giảng viên Viện Hán học, Đại học Văn khoa và Cao đẳng Mỹ thuật Huế. Là người có thiên
hướng văn chương từ nhỏ, 6 tuổi Phan Văn Dật đã dành dụm tiền mua sách báo, 14 tuổi có
thơ in báo khắp ba miền như các báo Thực nghiệp dân báo, Nam Phong tạp chí, Khuyến học
(Hà Nội), Thần kinh tạp chí, Tràng an (Huế), Rạng đông (Sài Gòn)… Cuộc đời cầm bút hơn
hai phần ba thế kỷ của ông, ngoài tiểu thuyết Diễm Dương trang (1935), ông chỉ cho in một
tập thơ là Bâng khuâng (1936) và tập bản thảo Những ngày vàng lụa, tập hợp những bài thơ
ông sáng tác từ sau 1936, được in rải rác các báo và các tập tuyển.
Phan Văn Dật là nhà thơ đa sầu, đa cảm mang đậm tâm tình hoài cổ, mộng mơ. Mọi biến
đổi dữ dội trong đời sống chính trị xã hội của đất nước, dường như không mảy may tác
động vào tâm hồn ông. Chỉ riêng cái tên của tác phẩm như Bâng khuâng, Những ngày vàng
lụa, cũng đủ nói lên nỗi ám ảnh của tác giả về quá khứ, hay nói cách khác, những ngày sinh
ra và lớn lên trong phủ công chúa, đã ghi lại dấu ấn quan trọng và chi phối hồn thơ ông. Đặc
biệt, tên các bài thơ trong tập như Về lối cũ, Ngày lụt năm ấy, Nhớ mong, Ngậm ngùi, Tiếc
rẻ, Tình suông, Dáng dấp, Phút chia tay, Tiễn đưa… càng khẳng định hồn thơ hoài cổ của
ông, như chính những câu làm đề từ cho tập Bâng khuâng ông viết:
Đời tôi những phút thương buồn giận
Những phút nồng yêu hớn hở mầng
Lẽo đẽo mỗi lần tôi tưởng lại
Mỗi lần đều để tôi bâng khuâng
Khác với nhiều thi nhân xứ Huế cùng thời, Phan Văn Dật ít tả cảnh mà thiên về tả tình, cái
tình hoài niệm ấy thường gửi qua một câu chuyện tự sự. Ở ông không có sự cháy lên như
Xuân Diệu mà cũng không phải là sự gợi lại những mối tình mộc mạc, thôn dã kiểu Nguyễn
Bính, mà là thứ tình cảm tiếc nuối, nhân hậu, hướng về những gì đã qua đi không trở lại,
như một đôi vệt sáng le lói còn đọng lại mãi trong tâm hồn. Có thể thấy rõ, Phan Văn Dật là
người có tâm hồn thuộc về quá khứ. Ông là người đứng ở đường biên giữa cũ và mới, tuy
Giáo viên : Nguyễn Khoa Khánh Hòa
Trường THCS Phong Bình
Chương trình địa phương Ngữ văn 8
Năm học 2023- 2024
sớm tiếp thu văn học cổ Trung Quốc và chịu ảnh hưởng văn học cổ điển Pháp, cũng như có
tiếp nhận ít nhiều tư tưởng tự do dân chủ phương Tây, nhưng ông vẫn cột chặt ngòi bút của
mình theo đạo đức truyền thống, song không quá cổ hủ, đồng thời cũng không buông thả,
phóng túng. Tư tưởng đó thể hiện trong cảm quan hiện thực: ông nhìn nhận cái hôm nay
bằng con mắt của người hôm qua. Ông nhìn cuộc đời đổi thay, nhưng bản thân mình không
dám tham gia vào cuộc đổi thay đó.
Như đã nói, Phan Văn Dật làm thơ trước khi có phong trào thơ mới xuất hiện (1932). Cả ba
bài thơ trong tập Bâng khuâng được Hoài Thanh tuyển vào Thi nhân Việt Nam đều được
ông sáng tác từ năm 1927 (Tiễn đưa, Bi xuân nương, Nàng con gái họ Dương) và về thi
pháp, ông vẫn trung thành với các thể thơ truyền thống như thất ngôn, ngũ ngôn, Đường
luật, lục bát và song thất lục bát. Nghĩa là, ông vẫn một mực theo lối thơ cũ truyền thống,
không dám bước qua ngưỡng cửa thênh thang của thể thơ phá cách, thơ tự do, nhưng cái
mới của ông, chính là ở nội dung mỹ cảm, ví như ở bài lục bát Nàng con gái họ Dương sau
đây:
Năm xưa ta lại chốn này
Hồ thu nước mới chau mày với thu
Nàng Dương mười bốn hái dâu
Hoa non đâu đã biết sầu vì thu
Năm sau ta đến chốn này
Nàng Dương tóc đã đến ngày cài trâm
Chiều xuân hoen hoẻn trăng rằm
Con ong lén gởi thơ thầm ngoài hiên
Qua năm ta lại chốn này
Ngựa xe chen bước dấu giày in sân
Phòng khuê cửa đóng mấy tầng
Chim xanh mỏi cánh mấy lần về không
Rồi năm ta lại chốn này
Nàng Dương mở cửa suốt ngày đợi tin
Thềm ba khách vắng rêu in
Cành hoa năm ngoái ai vin năm này?
Năm nay ta lại chốn này
Lầu không chim vắng, chim bay đằng nào?
Hỏi người có biết tăm hao
Giáo viên : Nguyễn Khoa Khánh Hòa
Trường THCS Phong Bình
Chương trình địa phương Ngữ văn 8
Năm học 2023- 2024
Láng giềng rằng có cô nào đâu đây!
Ngay cả về nội dung đề tài, thơ Phan Văn Dật cũng ít nhiều níu giữ truyền thống, ở cái phần
tốt đẹp nhất trong đời sống tinh thần dân tộc: “Giữa luồng không khí mới thúc giục người ta
thoát ly gia đình, Phan Văn Dật đã dám ca tụng cái tình cha con, anh em; sách của người,
người đề tặng song thân, tưởng ngày nay cũng là điều ít có”12. Thơ ông không mượt mà,
lãng mạn, không rực rỡ, lung linh, không réo rắt, hùng tráng, không làm người đọc bồi hồi
ngây ngất, nhưng vẫn có sức vẫy gọi người đọc, bởi chất tinh tế, nhạy cảm, quyến luyến từ
bên trong câu chữ, thôi thúc và lôi cuốn tâm hồn người đọc với một niềm đam mê khó
cưỡng, ngay cả đối với lớp người đọc trẻ tuổi sau này. Từ năm 1968, trở về sau cho đến cuối
đời, người ta không thấy có thơ Phan Văn Dật xuất hiện trên báo chí ở các đô thị miền Nam
nữa. Đó là một trong những khúc quanh của cuộc đời, buộc nhà thơ phải im hơi lặng tiếng,
nhưng ông vẫn giữ một tấm lòng trong sạch đối với văn chương, một tình yêu quê hương
đất nước, một nhân cách trí thức toàn vẹn với sự thanh cao, đài các của xứ sở quê ông.
Thu Hồng, quê làng Thần Phù, Hương Thủy, nhưng sinh ra ở Đà Nẵng và học ở đây hết bậc
tiểu học rồi ra học trung học ở Trường Đồng Khánh Huế. Tác phẩm đã xuất bản là tập Sóng
thơ (1940). Mấy nghìn năm phong kiến, người phụ nữ học để biết chữ đã khó, làm được thơ
hay càng khó hơn, nhất là trong chốn “dinh lũy” của thành trì phong kiến. Viết về nhà thơ
nữ xuất thân từ hoàng phái có tên đầy đủ là Tôn Nữ Thu Hồng này, Hoài Thanh viết: “Ở xứ
này, nói đến những thiếu nữ làm thơ người ta thường mỉm cười. Hình như thơ là một cái gì
to chuyện lắm. Thu Hồng đã tránh được cái mỉm cười mai mỉa ấy vì người rất bình dị, rất
hồn nhiên, không lúc nào ra vẻ muốn làm cho to chuyện”
13. Thế giới nghệ thuật trong Sóng thơ là sự trải lòng của cô nữ sinh Đồng Khánh với cỏ
cây, non nước một cách dịu dàng (Êm đềm, Mảnh hồn thơ, Tơ lòng với đẹp…), với giọng
điệu trẻ trung nhí nhảnh, không quá hiện sinh một cách gấp gáp như Xuân Diệu “nhanh với
chứ, vội vàng lên với chứ!” mà là “muốn sống hoài trong thời thơ ấu” như Hoài Thanh đã
từng dẫn chứng:
Mầm chán nản chớ len vào niên thiếu
Chớ len vào sớm quá, tội em mà!
Em nghe như thời ấy vẫn còn xa
Em chầm chậm để để mong còn xa mãi
Hãy là hoa, xin hãy khoan là trái
Hoa nồng hương mà trái lắm khi chua
Một giọng điệu nghệ thuật luôn xuất phát từ một quan niệm nghệ thuật tương ứng, rồi từ
quan niệm nghệ thuật sẽ làm nảy sinh những quy luật hình thức, tức là hệ thống thi pháp
nhất định nhằm thể hiện thế giới tâm hồn thành câu, thành chữ. Trong thế giới tâm hồn của
cô nữ sinh trong trắng, hồn nhiên cứ muốn mình là đứa trẻ nhí nhảnh, lúc nào cũng tràn
ngập niềm vui, kể cả lúc làm thơ cũng cứ thả cho niềm vui tung tăng trên trang giấy trắng,
ngập tràn vây chặt tâm hồn khi mới đứng trước ngưỡng cửa của tình yêu, đến nỗi cô không
giải thích nỗi cảm xúc của mình, cô “Chỉ biết hôm xưa một buổi chiều/ Cùng người trò
chuyện chẳng bao nhiêu/ Người đi, tôi thấy sao mong nhớ/ Và cảm quanh mình nỗi tịch
liêu”. Hóa ra, con người ta không dễ gì chỉ dừng mãi ở hoa, dù không muốn cũng đến lúc
hoa phải trở thành trái, cũng như sau niềm vui có lúc cũng giăng mắc nỗi buồn, không ai có
thể cưỡng lại được. Hãy nghe nữ thi sĩ của chúng ta thuở ấy quan niệm về thơ, về nghệ thuật
Giáo viên : Nguyễn Khoa Khánh Hòa
Trường THCS Phong Bình
Chương trình địa phương Ngữ văn 8
Năm học 2023- 2024
luôn gắn với niềm vui, “hoàn toàn vui”, mà đúng thôi, nghệ thuật mà chỉ có nỗi buồn, thì ai
tìm đến nghệ thuật làm chi, nhưng cuộc sống vốn thế, có niềm vui thì liền theo đó là nỗi
buồn, “có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai”:
Em muốn thơ em hoàn toàn vui
Đừng sầu lá rụng, khóc hoa rơi
Đừng than thở, tiếc ngày qua chóng
Ước nguyện đành không đạt nguyện rồi
Ô hay! Đâu thoát khỏi triền miên
Hồn lặng trong mê, ý dậy phiền
Đời ít khi vui, hoài cảm xúc
Thương sen lẫn lộn sống trên bùn!
Cho nên nhiều lúc, muốn thơ cười
Chợt nghĩ quanh mà bút bỗng rơi!
Ôm mảnh hồn thơ, dường oán hận
Em dùng thổn thức, dãi nên lời
(Mảnh hồn thơ)
Trong thơ Thu Hồng không chỉ bắt gặp cảm xúc “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu” của
Xuân Diệu, mà còn nhiều vương tơ với người đồng hương Thanh Tịnh, khi Thanh Tịnh có
Tơ trời với tơ lòng, thì Thu Hồng dường như nối dài thêm ra Tơ lòng với đẹp, nhưng cả hai
đều không hề có sự lặp lại, mà được nâng cấp theo một hướng khác, thể hiện sự trong trẻo,
hồn nhiên, dịu dàng đầy nữ tính. Ở những bài thơ thể hiện cảm xúc trước thiên nhiên, sông
nước của xứ Huế của bà, cũng gần với âm hưởng của người phát hiện ra Huế, Đẹp và thơ là
thi sĩ Nam Trân, như những bức tranh chấm phá, màu sắc và đường nét chưa thật sự hoàn
chỉnh, nhưng cũng thể hiện được nét tinh tế, linh hoạt và quý phái đầy nữ tính của một tâm
hồn Huế:
Đêm. Trăng rạng rỡ soi
Thuyền ai thong thả trôi
Đàn hát chảy theo nước
Không gian bỗng nô cười!
Về mặt thi pháp, phải thừa nhận rằng, ở ngay thời buổi thơ mới vừa định hình, Thu Hồng là
cây bút trẻ hết sức năng động, linh hoạt. Bà đã vận dụng nhiều thể thơ, trong đó có cả truyền
thống và hiện đại, như thơ lục bát, năm chữ, bảy chữ, tám chữ… đều đem lại những thành
công nhất định, khẳng định tính ưu việt của thơ mới trong tiến trình hiện đại hóa thơ ca và
quá trình lịch sử văn chương của dân tộc.
Giáo viên : Nguyễn Khoa Khánh Hòa
Trường THCS Phong Bình
Chương trình địa phương Ngữ văn 8
Năm học 2023- 2024
Tố Hữu với Từ ấy: Tố Hữu (1920 – 2002), tên thật là Nguyễn Kim Thành, người làng Phù
Lai, Quảng Thọ, Quảng Điền, học trường Quốc học, sớm giác ngộ cách mạng, gia nhập
Đảng Cộng sản Đông Dương từ năm 17 tuổi (1937), cũng là năm ông bắt đầu sự nghiệp thơ
ca. Từ đó, con đường thơ và con đường cách mạng của ông trở nên song hành: tham gia
Thành ủy Huế, bị bắt đi tù qua các nhà lao Huế, Lao Bảo, Quy Nhơn, Buôn Ma Thuột,
Đăkglei, vượt ngục về làm Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa, Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa Thừa
Thiên-Huế 1945, Bí thư Xứ ủy Trung kỳ, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Bộ Chính trị,
Phó Thủ tướng, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng… Là tác giả của nhiều tập thơ gắn liền
với lịch sử cách mạng của dân tộc như Từ ấy (1946), Việt Bắc (1954), Gió lộng (1961), Ra
trận (1972), Việt Nam máu và hoa (1977), Một tiếng đờn (1992)… nhưng quan trọng nhất
vẫn là tập thơ đầu tay Từ ấy, được sáng tác từ trong phong trào Thanh niên Dân chủ Đông
Dương (1936 – 1939), được công bố trên các báo chí công khai, mở đầu cho dòng thơ ca
cách mạng theo quan điểm của tư tưởng marxisme và đường lối của Đảng Cộng sản Đông
Dương.
Tố Hữu đến với thơ ca vào cuối những năm ba mươi của thế kỷ XX, sau đội ngũ các nhà
nho chí sĩ bỗng trở nên lạc lõng trước thời cuộc, trong sự bước tiếp của một thế hệ làm thơ
yêu nước mới, như Sóng Hồng (Tin tưởng, Là thi sĩ), Xuân Thủy (Không giam nỗi trí óc,
Trong nhà tù), Lê Đức Thọ (Xuân chiến sĩ), Hoàng Văn Thụ (Gửi bạn), Trần Huy Liệu
(Qua thăm gốc ổi, Khách chiến bại với nàng xuân nữ), Trần Minh Tước (Hội nghị thuế,
Những giấc mơ trong ngục), Trần Mai Ninh (Nhớ máu, Tình sông núi)… Sáng tác của họ
thể hiện tư tưởng của chủ nghĩa yêu nước trên lập trường tiểu tư sản (những năm 1920) rồi
sau đó là vô sản (những năm 1930). Về hình thức, họ chưa có điều kiện và thời gian gọt dũa
theo phong trào thơ mới, mà chủ yếu là các thể thơ truyền thống, bởi tuy họ có tiếp thu Tây
học nhưng phần lớn vẫn chịu ảnh hưởng của Hán học. So với phong trào thơ mới, dòng thơ
cách mạng có sự gần gũi nhiều hơn với dòng thơ của các chí sĩ đầu thế kỷ. Thế nhưng, trong
số họ, không phải tất cả đều xa lạ với cái mới, đều “bảo thủ” trước sự phát triển của hình
thức nghệ thuật của phong trào thơ mới, tiêu biểu là trường hợp Tố Hữu. Trong bài tựa viết
cho tập Từ ấy (tái bản năm 1959), Đặng Thai Mai cho rằng: “Người của thời đại, Tố Hữu
không thể không đọc, không thưởng thức thơ mới trong phần thành công của nó… không
thể không tiếp thu ít nhiều ảnh hưởng của các nhà thi sĩ đồng thời”
14. Xuân Diệu cũng đã từng chỉ ra một cách xác đáng rằng: “Tố Hữu đã dùng những yếu tố
của phong trào thơ lãng mạn đang thịnh hành đương thời, đem vào thơ của mình và diễn đạt
cái tinh thần cách mạng lối mới, cách mạng vô sản… cái phong cách lãng mạn kia, tức là
cảm xúc đầy rẫy, đồng thời với việc cá thể hóa”. Điểm khác biệt giữa thơ mới và Từ ấy là
thế giới quan và nhân sinh quan của chủ thể sáng tạo. Điều đó không đối lập với việc sử
dụng đầy rẫy cảm xúc và cá thể hóa trong phương thức điển hình. Trong Câu chuyện về thơ,
chính Tố Hữu cũng đã từng thừa nhận rằng: “Tôi cũng thích nhạc điệu và hơi thơ của Thế
Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận… Trong tâm hồn các anh lúc đó,
tôi tìm thấy những nỗi băn khoăn, đau buồn của những người cùng thế hệ, đòi hỏi tự do, ước
mơ hạnh phúc, tuy các anh chưa tìm thấy lối ra, và nhiều khi rơi vào chán nản”15. Vì vậy,
khác với các nhà thơ cách mạng khác, với Từ ấy, Tố Hữu đã đưa thơ ca cách mạng phát
triển đến một cấp độ mới đáng ghi nhận, đó là sự thống nhất giữa cái mới trong nội dung tư
tưởng và cái mới của hình thức nghệ thuật. Giáo sư Phong Lê có lý khi đề ra khái niệm này:
“Từ ấy là thơ mới, nhưng không phải là thơ mới lãng mạn mà là thơ mới cách mạng”
15.Từ ấy là sự tập hợp những bài thơ Tố Hữu làm trong khoảng gần mười năm (1937 –
1946), cũng là thời gian tác giả có tuổi đời từ mười bảy đến hai mươi sáu, và chàng trai
mười bảy tuổi bắt đầu bằng những cảm xúc phơi phới dưới ánh ban mai:
Giáo viên : Nguyễn Khoa Khánh Hòa
Trường THCS Phong Bình
Chương trình địa phương Ngữ văn 8
Năm học 2023- 2024
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lý chói qua tim
Hồn tôi là một vườn hoa lá
Rất đậm hương và rộn tiếng chim
Tập thơ được chia thành ba phần: Máu lửa, Xiềng xích, Giải phóng. Máu lửa được viết vào
khoảng 1937 – 1939, thời kỳ nổ ra cuộc đấu tranh dân chủ, tác giả đã đồng cảm với những
người lao khổ, đứng về phía các dân tộc bị áp bức, căm hờn và lên án lối sống xa hoa ích
kỷ, bóc lột của giai cấp thống trị, thể hiện nhân sinh quan cách mạng, lập trường và chủ
nghĩa lạc quan, tin tưởng vào xu thế chiến thắng tất yếu của sự nghiệp cách mạng do Đảng
lãnh đạo và cả cách mạng thế giới dưới ánh sáng của tư tưởng marxisme. Tinh thần chung
của cả phần này là sự giác ngộ lý tưởng của một thanh niên trong tiến trình vận động cách
mạng và vận động để hình thành một nền thơ ca mới, thơ ca cách mạng.
Xiềng xích là sừng sững chân dung một người chiến sĩ trẻ trước sự tra tấn tù đày, giam cầm
hết nhà tù này đến nơi lưu đày khác: các lao Thừa Thiên (1939 – 1940), Lao Bảo (1940 –
1941), Quy Nhơn (1941 – 1942), đến các vùng rừng thiêng nước độc như “Đường lên xứ lạ
Kontum/ Đường lên Đaksut, Đakpao/ Đường lên đỉnh núi Đaklay/ Phất phơ gió lạnh, sương
đầy vắng chim”… thật khó nói hết nỗi gian truân vất vả mà người tù trẻ tuổi phải chịu đựng
và trải qua trong hơn ba năm bị giam cầm trong ngục tù đế quốc, vẫn giữ vững tấm lòng
kiên trung và chí khí chiến đấu, luôn tự dặn lòng mình: “Khóc là nhục. Rên, hèn. Van, yếu
đuối”. Xiềng xích là thơ của người chiến sĩ dặn lòng quyết không bao giờ nản chí khuất
phục trước quân thù. Đồng thời, cùng với sự tự nhắc nhở mình và thắp lửa trong lòng đồng
đội, đồng chí, thơ ông lúc này vẫn là thơ tranh đấu, thơ hành động, thơ kêu gọi, đoàn kết
mọi người vì một lý tưởng sáng rực rỡ trong tương lai:
Quyết chiến đấu! Nào ta liên hiệp lại
Hỡi tù nhân khốn nạn của bần cùng
Ngày mai đây tất cả sẽ là chung
Tất cả sẽ là vui và ánh sáng!
Phần Giải phóng chỉ có mười mấy bài, tác giả làm từ khi vượt ngục Đăkglei về với đồng
bằng, làm Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa, rồi cùng nhân dân cướp chính quyền… nội dung tư
tưởng và âm hưởng trữ tình khác hẳn với những phần thơ trước. Ở đây, sự biến đổi rất rõ cả
về nội dung mỹ cảm và thi pháp biểu hiện, kéo gần ông hơn với các nhà thơ mới, mặc dù về
nhân sinh quan, thế giới quan và vũ trụ quan vẫn còn trong tư thế lưỡng đối. Trên đường
thoát ly chiến đấu, nhà thơ – chiến sĩ đã bắt đầu nhìn thấy viễn cảnh tương lai với tầm nhìn
xa rộng: “Chân trời lui mãi lan lan rộng/ Hy vọng tràn lên đồng mênh mông”. Tình yêu giai
cấp, lòng yêu nước, sự tin tưởng đối với nhân dân và cách mạng, bấy nhiêu đề tài đã được
thể hiện trong những thể thơ, những hình tượng thơ mới mẽ, sáng lung linh, thông qua ngôn
ngữ, lời nói giản dị, gần gũi và gắn bó với nhân dân, trong sự yêu thương, đùm bọc:
Tháng ngày chát cổ cơm khoai sắn
Rách rưới lều che tạm gió sương
Hiểu nhau rồi, hiểu lắm bạn ơi !…
Giáo viên : Nguyễn Khoa Khánh Hòa
Trường THCS Phong Bình
Chương trình địa phương Ngữ văn 8
Năm học 2023- 2024
Đặng Thai Mai từng ví Từ ấy là “bó hoa lửa lộng lẫy, nồng nàn” kết tinh của một cuộc cách
mạng vĩ đại, làm thay đổi số phận dân tộc, tiến trình lịch sử của đất nước và cả tiến trình
hiện đại hóa của thơ ca, trong đó có sự giao thoa giữa thơ ca yêu nước của các chí sĩ và thơ
ca yêu nước cách mạng, giữa thơ mới lãng mạn và thơ mới cách mạng, giữa chân dung chủ
thể là người thi sĩ và chiến sĩ cách mạng. Từ ấy không phải là đỉnh cao trong sự nghiệp thơ
ca của Tố Hữu, nó chỉ là con mưa đầu mùa nhưng nung nấu và ươm đầy những tia chớp.
Những tác giả đến Huế, viết về Huế
Nam Trân (1907 – 1967), tên thật là Nguyễn Học Sỹ, quê làng Phú Thứ Thượng, Đại
Quang, Đại Lộc, Quảng Nam. Thuở nhỏ, học chữ Hán, lớn lên ra học trường Quốc học Huế,
rồi học trường Bưởi (trường Bảo hộ) Hà Nội. Tốt nghiệp tú tài, về làm Tham tá tòa Khâm
sứ Huế, rồi được bổ nhiệm làm Trợ lý Bộ lại, đồng thời viết cho các báo Tràng an, Sông
Hương, Phong hóa, Nam Phong tạp chí, Văn học tạp chí… Tham gia kháng chiến chống
Pháp, công tác ở Ủy ban hành chính kháng chiến tỉnh Quảng Nam, Chánh văn phòng Ủy
ban hành chính kháng chiến Liên khu Năm, Chủ tịch Hội Văn nghệ kháng chiến Liên khu
Năm. Sau 1954, tập kết ra Bắc, làm Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa I
(1957). Năm 1959, chuyển sang Viện Văn học, phụ trách tiểu ban dịch tập thơ chữ Hán
Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh. Trong suốt cuộc đời của ông, ngoài thơ dịch chữ Hán
(Thơ Đường, Thơ Tống, Kinh thi…), ông chỉ có một tập thơ duy nhất ra đời tại xứ Huế, lại
là người phát hiện ra Huế, Đẹp và thơ trong văn học hiện đại.
Làm nên tên tuổi Nam Trân chỉ vỏn vẹn 50 bài thơ viết về cảnh vật và con người xứ Huế,
được công bố rải rác trên các báo như Nam Phong tạp chí, Văn học tạp chí, Phong hóa…
sau đó mới được tập hợp thành Huế, Đẹp và thơ (1939). Ra đời trong không khí u buồn và
cô đơn của phong trào thơ mới, nhưng Huế, Đẹp và thơ đã vượt ra khỏi vòng sinh quyển của
...
 





