Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam
Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam
Cỏ Lau - Nguyễn Minh Châu

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 09h:47' 22-03-2024
Dung lượng: 688.8 KB
Số lượt tải: 5
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 09h:47' 22-03-2024
Dung lượng: 688.8 KB
Số lượt tải: 5
Số lượt thích:
0 người
Nguyễn Minh Châu
CỎ LAU
Tuyển tập Truyện ngắn hay nhất của
Nguyễn Minh Châu
NXB Văn Học - 2019
Cỏ Lau - NXB Văn học - 1994
I
ột dãy khuôn mặt người hiện ra trước mắt tôi, dọc theo một bức vách
bằng gỗ dán lỗ chỗ vết đạn bắn. Chẳng khó khăn gì lắm, căn cứ vào
nước thuốc và cách ăn mặc trong các bức ảnh, tôi cũng có thể nhận
ra chỉ có đôi ba bức mới chụp từ ngày dọn về đây, còn thì hầu hết là những
bức cũ được chụp dưới thời ngụy, khi chủ hiệu còn trương biển ở các
thành phố trong Nam những năm phiêu dạt chạy bom đạn, lại có mấy bức
quý giữ được từ ngày cái thị xã này còn nguyên lành, hồi chủ hiệu còn cái
nhà ảnh quán hai tầng đầy khang trang trên một con phố đã bị vùi lấp.
- Cô này nguyên ngày trước là học sinh trường Bồ Đề. Người trong bãi
cát. Là một trong mấy người đẹp nối tiếng của cái thị xã tỉnh lẻ này cách
đây mươi năm.
Người thợ ảnh nay đã luống tuổi tuy vẫn còn trẻ hơn tôi nhiều đi phía
sau mau mắn giới thiệu:
- Bây giờ ở đâu?
M
- Làm sao biết được hả thưa ông. Xưa nay, nhan sắc và chiến tranh...
Có thể đã chạy ra nước ngoài, hay đã chết mất rồi? Cái thị xã Quảng Trị
này, chắc ông đã biết rõ, chiến sự chà đi sát lại mấy phen, đến một nửa hòn
gạch nguyên lành cũng chẳng còn thấy, giá có còn thì cũng không còn nằm
ở chỗ nhà cũ. Huống hồ là con người.
- Nửa năm nay, - tôi hỏi, - người cũ chạy ra đi có trở về đây nhiều
không?
- Thưa ông ít lắm. Chỉ còn chút tình quê hương chứ nhà cửa, phố xá chỉ
còn một đống gạch vỡ cho cỏ lau mọc. Còn gì nữa đâu mà về.
- Về thăm, chẳng lẽ cũng không ư?
- Hồi mẩy tháng đầu, khi anh em bộ đội chưa trỏ lại đào bới hài cốt,
khi máy ủi, máy xúc chưa san, cũng có nhiều gia đình trở về muốn lập
nghiệp trở lại trên cái nền đất cũ. Nhưng sức hai bàn tay làm gì nổi? Ông
coi, đến tìm ra chỗ cái nền nhà mình cũng khó khăn lắm. Rồi cũng chỉ ngủ
lại một vài đêm giữa gạch vỡ, giữa lau lách, ngủ chung với cầy cáo, rắn rết
rồi lại kéo nhau mà đi thôi, về sau này, máy móc dọn dẹp được vài đường
phố, lại thấy có người trở về. Nhưng đến bây giờ, đất nền nhà, nền phố đã
trở thành đất công. Phải dùng để xây dựng cơ quan, trụ sở, hội trường, với
lại khu tập thể gia đình cán bộ...
- Bây giờ họ ở đâu cả?
- Như dân Do Thái. Đến bây giờ một phần lớn dân thị xã này đã lập
nghiệp hẳn trong Nam, hoặc ở các tỉnh miền Trung tận phía trong, làm
rừng, làm ruộng, làm biển. Mà cũng phân tán, rải rác mỗi tỉnh một ít.
Nhưng cái dân Quảng Trị đi đâu cũng làm ăn càn cù, cũng nuôi nấng, che
chở cách mạng, Như gia đình chúng tôi mấy năm chạy vào Sài Gòn, nhà tôi
vẫn nuôi giấu cán bộ.
- Hồi ấy, có một ít bà con chạy ra được...
- Cũng cái trận hồi bảy hai, có một số may mắn chạy ra miền Bắc
được, khi trở về lại được cấp đất ở ngoài Đông Hà. Hóa ra lại càng may
mắn. Ở ngoài ấy có con đường số 9, có cái cửa khẩu thông sang Lào, bây
giờ làm ăn, buôn bán còn dễ dàng hơn trở về trong này nhiều.
Trò chuyện vòng vo mãi, đắn đo mãi, tôi mới dám giơ tay trỏ một bức
ảnh chụp một cặp vợ chồng mới cưới, mới được phóng đại và tô màu bằng
thuốc nước, treo ở hàng ảnh trên cao. Người thợ ảnh hào hứng hẳn lên,
mau mắn thuyết minh:
- Đây là bức ảnh kỷ niệm riêng của nhà tôi. May sao nhà tôi còn giữ
được. Tôi phải mất nhiều công lắm mới khôi phục lại được bức ảnh này.
Ông xem, nước ảnh chụp đã lâu... từ kháng chiến chống Pháp. Mà chắc
chắn là nước ảnh của bên kháng chiến mình.
- Phải, - tôi nhấc cặp kính lão xuống chà lên vạt áo quân phục rồi đeo
lên, bình phẩm - phải, anh bộ đội mặc tấm áo rét kiểu trấn thủ, đúng là bộ
đội thời vệ quốc đoàn.
- Vâng, thưa ông, anh bộ đội đó đã anh dũng hy sinh, là người chồng
trước đây của nhà tôi - người chủ hiệu ảnh càng cởi mở - tôi phải thuyết
phục mãi nhà tôi mỏi thuận cho đem treo ra phòng ảnh, chiêu khách ở
ngoài này.
Tôi chép miệng nhỏ:
-Nhưng để làm gì nhỉ?
- Ông hãy đi một vòng thử coi, thị xã mới tụ họp về dưới chính quyền
của bên phía cách mạng ta, sau bao năm sõng dưới chế độ cũ. Cho nên các
nhà hàng mới mở cửa chung quanh khu chợ Thành Cổ này nhà nào cũng
treo lên một bức ảnh hay tờ tranh vẽ bộ đội duyệt binh ở quảng trường Ba
Đình, lại còn mở băng nhạc cách mạng tưng bừng. Nhà hàng ảnh chúng tôi
lại có cả một anh bộ đội mặc quần áo từ hồi vệ quốc đoàn đánh Tây. Có
phải không ông, nó quý hiếm lắm chứ?
- Vâng, thật quý lắm! Tôi lau lại đôi mắt kính, với vẻ kín đáo tôi lại
ngước mắt ngắm cái người đàn bà mới trạc chưa đến hai mươi, tươi giòn,
một dáng đứng trẻ trung trông cứ von vón, đầu hơi ngả về phía vai người
chồng mặc áo trấn thủ "anh dũng hy sinh". Khác với người ta hay nói, tôi
nhận thấy cái chết không hề để lại một chút dấu vết gì trên khuôn mặt
người lính của một thời kháng chiến chống Pháp đầy gian khổ. Một cặp
mắt hình quà trám hơi xếch, một khuôn mặt vuông chữ điền của nông dân
miền Trung hơi cứng, lại vẩn có nét gì lãng mạn cứ phơi phới coi nhẹ cái
chết và không thèm vướng bận thế nhi, như có ngọn gió ngày đầu cách
mạng đang thổi từ trong lòng.
Tôi đã xem đến bức ảnh cuối cùng. Một thiếu nữ mặt gãy có mái tóc
uốn công phu, những lớp tóc như những làn sóng đang xô đuổi nhau, hai
hàm răng trắng và đều đặn cắn một chiếc gọng kính mát cầm trên tay. Tôi
dời mắt khỏi cái nụ cười mỉm của thiếu nữ ấy chỉ một khoảng cách chừng
vài ly mét đã trông thấy một đoạn Thành cổ màu gan gà đố nát hiện ra giữa
một rừng lau lách và một khoảng trống tiếp theo do khúc thành đã hoàn
toàn bị san bằng, nơi cái tổ chốt của chúng tôi bao gồm toàn cán bộ bộ binh
lẫn trinh sát pháo binh, hóa học, đến bây giờ chỉ còn sót lại một mình tôi
còn sống - ở ngay phía sau cái khoảng thành trống hoác ấy, bây giờ hiện ra
mặt nước màu kẽm của một khúc sông Thạch Hãn đang tỏa khói mơ màng,
ngay bên hồi nhà của cái cửa hiệu ánh lợp bằng những tẩm ghi sắt lỗ chỗ
vết đạn bắn từ hai phía.
Tôi nhìn lướt trở lại một lần thứ hai các khuôn mặt được trưng bày dọc
bức vách gỗ - như lần giở nhanh một quyển an bom cũ sau bao nhiêu biến
thiên ghê gớm của chiến tranh vừa nhào nặn những số phận đời người trong lúc người thợ chụp ảnh nhắc tôi lần thứ hai:
- Mời ông vào!
Một con chó giống Đức to cao lừng lững ngang một con bê từ một
khuôn cửa sổ hình chữ nhật nằm ngang mở ra lối vườn phía sau nhảy
chồm vào nhà. Gian nhà trong hơi tối. Những dãy cuốn phim có lẽ vẫn còn
ướt kẹp bằng những chiếc kẹp phơi quần áo bằng gỗ treo giăng giăng kín
cả khuôn cửa sổ, vì thế khi con chó nhảy qua, một cuốn phim ảnh đã bị lôi
xuống vướng trên tấm lưng lực lưỡng có bộ lông màu vàng sẫm như lông
hố của con chó.
- Lu, Lu!
Người thợ ảnh gọi con chó bằng giọng khe khẽ đầy lịch sự, vươn dài
người giơ tay nhặt lấy cuốn phim từ lưng con chó, cầm chênh chếch trong
hai bàn tay, bỗng kêu lên đầy vui vé:
- Đây rồi, thế mà tìm mãi...
Một khách hàng chạy lại. Một anh bộ đội mặt mày rám nắng đầy phong
trần nhưng vẫn còn khá trẻ. Tôi nhận ra anh ta bước vào nhà hàng này cùng
lúc với tôi cách đây mấy ngày, trong lúc đi sóng đôi bên người vợ mới
cưới đầy bẽn lẽn và rạng rỡ hạnh phúc.
- Đẹp lắm - người thợ ảnh bình phẩm, một con mắt nheo lại, giơ một
ngón tay trỏ vào một khúc phim cho người bộ đội đứng dàng sau đang nhìn
qua cái vai áo bờ-lu-dông màu nghệ thối có con đĩa uốn vồng lên của
người thợ ảnh - đẹp lắm, theo tôi, hai "pô" sau cùng là đẹp hơn cả. Nhất là
trông chị rất tự nhiên. Anh nên in thêm.
- Vâng, bác cho mỗi "pô" độ một vài chục tấm.
- Nhiều thế cơ? Thôi được - người thợ ảnh hài hước - cũng là may có
con Lu Lu vô tình đã giúp tôi tìm thấy được anh chị. Đây là kết quả của cái
tính lộn xộn của nhà tôi. Anh biết không, hai ngày nay hễ có khách đến lấy
ảnh là tôi cứ phái lục tung lên.
Con chó to lớn đi qua trước mặt tôi với một vẻ khinh khỉnh đầy kênh
kiệu, cái mặt dài thuỗn và nửa dưới đen sì không hề quay về phía tôi. Nó
đứng giữa gian phòng ảnh chiêu khách bên ngoài, lơ đễnh đưa mắt ngắm
những đám bụi đỏ bay cuộn tròn trong trận gió "Ông cụt" mờ mịt che khuất
cả dãy đàn bà ở chợ Thành Cổ về đang đi giăng giăng ngoài bờ sông Thạch
Hãn.
Trong khi bước qua cái khuôn cửa lớn phía trên đầu treo bức ảnh
phóng đại tô màu cặp vợ chồng người bộ đội vệ quốc đoàn, tôi đã biết
chắc chắn người đàn bà đang đứng trên đầu tôi kia phải đến trưa hay nửa
chiều mới gánh gánh hàng từ ngoài chợ Thành Cổ về. Cho nên tôi có thế
yên tâm rời gian phòng hẹp và sáng bên ngoài, bước vào cái gian bên trong
lúc nào cũng tôi mờ mờ như một thứ ánh sáng giả trên sân khấu. Đấy
không phải là một gian phòng ỏ mà chỉ dùng làm phòng chụp, với dây dợ,
những ngọn đèn chiếu cùng vô số những tấm phông. Cũng như lần trước,
tôi lại có cảm tưởng lọt vào giữa một cái két sắt bởi không hiểu sao người
thợ ảnh lại phải dựng gian phòng chụp chắc chắn đến như vậy. Đấy là một
gian phòng bốn bề đều ghép bằng ghi trần nhà, nền nhà cũng lát bằng
những tẩm ghi có lỗ hoặc ghi tổ ong i-nôc có lẽ được lột từ sân bay quân sự
Ái Tử hoặc một căn cứ nào đó ở chung quanh.
Chủ ảnh quán không ngớt lời xin lỗi tôi. Ông đúng sau quầy đưa ra một
tệp những chiếc phong bì nhỏ bằng giấy xi măng, liên tiếp lôi ra những
khuôn mặt và dáng hình người đứng ngồi đủ các kiếu. Tôi không tìm thấy
tôi trong số đó. "Phiền ông nhiều quá, chúng tôi thật không phải một chút
nào!" Tôi đi theo người chủ ảnh quán giàu tế nhị. Sau một bức màn bằng
vái tím treo lơ lửng che khuất một góc nhỏ bên phải cái "két sắt" vẳng đưa
ra giọng cười khúc khích của phụ nữ và những tiếng nói nhát gừng của một
ông già nào đó khiến tôi hết sức nghi hoặc. Tôi vén lá màn nhẹ nhàng bước
vào.
Cái ông già đang ngồi đó mà tôi trông thấy trước tiên khiến tôi đứng
sững: Hóa ra chính là ông già tôi. Ông già tôi vẫn còn sống nhưng đã già đi
đến mức thế? Cái đầu bây giờ không còn một sợi tóc, lại đầy gầu, nom cứ
mốc trắng, quá nhỏ bé như đầu một con chim lớn đã bị vặt trụi hết lông.
Một bộ quần áo may bằng vài chúc bâu trắng nhưng đã ngã màu cháo lòng
rộng thùng thình trong cái thân thế gầy và dài cứ nguềnh ngoàng. Ông già
tôi đi đâu mà lần trước đến đây tôi không thấy nhỉ? Ông đang cầm một
chiếc đèn pin cột lủng lẳng hai cục pin khối giơ cao trên đầu ba cô gái và
một đứa bé con trai. Trông cách ăn mặc tôi đồ chừng họ từ dưới miền biển
Triệu Phong hay Hải Lăng lên. Một chiếc chậu thau tráng men đựng đầy
nước để giữa, đang được chiếu sáng từ luồng đèn pin. Trên tay ông già, tay
kia, cầm một đôi đũa không ngừng lật ngửa từng chiếc ảnh ớ trong chậu
thau nước.
Mắt kính tôi đã ướt đẫm. Bà già tôi mất sớm. Tôi và thằng Hệ được
ông già tôi nuôi từ khi một đứa lên bốn, một đứa chưa đầy năm. Lớn lên,
thằng Hệ sống ở làng, còn tôi hơn nửa đời người biền biệt tận ngoài miền
Bắc, mang đơn vị luồn vào đánh đấm một chập rồi rút ra đến thằng em
làm du kích ở xã dưới vùng sâu cũng chẳng bao giờ được gặp. Trông thấy
ông già đang ở đây, tự nhiên tôi nảy ra một mối lo sợ: Thằng Hệ chẳng còn
sống? Vì thế nên Thai mới phải nuôi cha tôi. Mới đây tôi mới nghe tin
phong phanh thằng Hệ đã hy sinh nhưng nguồn tin không chính xác lắm.
Tôi vẫn đau đáu ngắm người cha gần như đã trở thành một ông già xa
lạ. Tôi vẫn không thôi ngắm cái luồng ảnh sáng trên bàn tay run run đang
chiếu xuyên qua cái chậu thau nước có khuôn mặt người trên giấy ảnh nằm
úp sấp hoặc vừa được lật ngửa ra đang trôi nổi, , chiếu sáng trưng một một
cái đêm đen như mực của mười sáu năm về trước, tôi nằm dán bụng giữa
một khúc lạch nước đầy váng bẩn tanh rềnh, sau một bờ dậu bằng cây sắn.
Lần trở về làng ấy có Hiềm cùng đi với tôi. Tôi căng mắt theo dõi động
tỉnh của mấy nhà "liên gia" ở chung quanh. Không thấy gì khả nghi tôi
mới ra ám hiệu cho Hiềm đang nằm phía sau bằng một tiếng kêu "chít,
chít" như tiếng chuột. Hiềm đáp lại. Tôi bò vào. Kể từ ngày ra miền Bắc
sau chiến dịch Thu - Đông năm 1951, đã tám năm tôi mới trở về nhà. Ngôi
nhà cũ không còn nữa. Những vườn tiêu, những chuồng trâu cũng bị xe Mỹ
ủi đi sạch. Tre pheo bao quanh nhà cũng bị ủi, chỉ thỉnh thoáng mới thấy
hiện lên đột xuất ở một góc đâu đó vài đọt tre như chiếc cần câu lắt lay
dựng đứng giữa đêm tối. Bò từ ngoài bờ sông Đồng Vôi vào giữa làng,
tịnh không ngửi thấy mùi phân trâu, cái mùi phân trâu nồng nàn và quen
thuộc của làng xóm yên bình. Cá xóm Đồng Vôi cứ lạnh ngắt, trống huếch
trống hoác, trắng xóa như một vùng bị bệnh dịch hạch được rắc vôi bột.
Thằng Hệ bữa đó phái đi ngủ tập trung ngoài trụ sở dân vệ, chỉ có một
mình ông già tôi nằm trong nhà. Ông già nằm theo dõi đã nghe thấy tôi
đang nén thở nằm dán vào như con thằn lằn bên cối giã gạo đầu hồi nhà.
Thật ra đâu có phái cái nhà, chỉ là một cái hộp có nóc nhọn bằng tôn. Tôi bò
lần về phía cửa trước, đưa mấy ngón tay cào lên tấm tôn che cửa. Đến lần
thứ ba mới nghe tiếng trở mình rất khẽ, ông già mở cứa bước ra đi đái.
Lúc trở vào, thấy tôi đã ngồi giữa nhà, ông lão không hề lấy làm lạ, trong
cuống họng bật lên mấy tiếng "hực, hực" nhưng vội nén ngay, đưa tay sờ
hết mặt mũi tôi. Câu đầu tiên tôi hỏi ông già:
- Thai nó đâu hả cha?
-Trên nhà lao tỉnh.
- Chúng bắt vợ con vì tội gì?
- Vì có chồng ớ miền ngoài.
Tôi ngồi nghi một lúc:
- Hay là... lại bàn tay thằng Nhi?
- Nó chứ ai, bây giờ nó làm chức gì ở trên quận. Cỡi xe máy về làng
luôn luôn. Nó đang theo dò cái nhà này chặt lắm. - Lặng thinh một lúc cha
tôi lại nói tiếp. - Cha có nghe con đã trò về trong này. Lại nghe từ mồm
chúng nó nói.
- Thường đêm chúng nó có phục quanh nhà mình không? - Tôi hỏi.
- Có. Vài đêm lại thấy có đứa cào cửa, xưng tên là thằng Lực trên xanh
về. Cha nằm trong nhà nghe hơi thở của chúng nó, biết ngay..
Ông già lại "hực hực", lại đưa tay sờ mặt tôi:
- Con đi đi! Làm sao con phải vượt qua sông trước canh hai.
Tôi dùng dằng bên người cha mất một hồi lâu. Cha tôi phải xô ra. Tôi
với Hiềm bơi qua sông Đồng Vôi, sắp đạp sang bờ bên kia thì nghe bên
này có tiếng hô hoán, tiếng mõ đánh, được một lúc thấy đạn bắn nhoáng
nhoáng vàng cả mặt nước.
Toi cũng chỉ có dịp về nhà một lần ấy. Một năm sau tôi lại bị rút đi trở
về chủ lực. Công việc dưới vùng sâu bàn giao lại cho Hiềm.
Chỉ cách đây mấy ngày, tôi có đảo qua về xóm Đồng vôi cùng một tổ
trong đoàn "chính sách" mục đích tìm mộ Hiềm nhưng không thể nào tìm
thấy. Khoảng một năm sau lần tôi trở về, địch đã dồn hết dân xóm Đồng
Vôi của tôi vào trong khu tập trung Cùa, để nắm dân cho được chặt hon.
Đồng Vôi bây giờ là một khu rùng hoang ban ngày cò đỗ cứ trắng cả và
ban đêm đom đóm bay sáng đất, lạ quá, y như đã trở thành xứ đất riêng
của loài đom đóm. Về cái chết của tôi, sau nửa tháng kế từ ngày tôi phát
hiện ra tất cả dấu vết của mình ở cái hiệu ảnh - mới được lý giải, tôi mới
vỡ nhẽ: Vào một buổi trưa sau ngày Thai đi tù về chưa đầy hai tháng có
một người đàn bà trong xóm vác cái phạng đi qua ngoài hàng rào cây sắn.
Đi qua nhà tôi, người đàn bà không nhìn vào, chỉ giả vờ vấp một cái đánh
rơi cái phạng, cúi xuống nhặt, miệng thốt lên một câu trống không: "Ra bờ
sông mà coi kìa, cá lẹc rúc bèo tây chết ươn thối!".
Lúc bấy giờ Thai, vợ tôi, nghe xong liền biến sắc. Vứt chiếc áo đang
vá dở, Thai chạy vào nhà bếp giựt cái giỏ treo trên bức vách liếp, thong thả
đi ra bờ sông. Hai bờ sông vắng hoe. Có quãng bèo tây giạt về bịt kín mặt
nước. Thai nhảy ùm xuống nước, vét bùn trát đầy người nhem nhuốc, một
tay xách giỏ, một tay cầm chiếc nia sắt có ngạnh, cứ dọc sông mà đi. Đến
một cái âu nơi dân xóm ngày trước đào lấy đá ong về xây tường - thấy
một cái xác người nằm ngửa. Thai đi qua, cố ý đi chậm lại, đưa mắt nhìn
xuống. Xa tôi đã tám năm nhưng Thai vẫn nhớ rõ ràng mặt mũi tôi, cái
người đàn ông hai tay bị trói giật cánh khuỷu, có nhiều vết dao đâm trên
người, đang nằm rúc trong đám bèo tây.
Đêm hôm ấy, Thai, thằng Hệ và cha tôi cùng mấy đồng chí cũ tìm cách
bí mật đưa tôi về được trong xóm, hì hục chôn cất. Không một que nhang,
không một tiếng khóc.
II
M
ột cái mặt người nào đó giống Hiềm, lại một cái mặt nào đó giống
tôi cứ được lật lên. Có lúc từ đôi đũa trên tay ông già tôi rất khẽ
khàng và run rẩy lật lên một cái mặt giống thằng Hệ, khiến tôi giật
mình.
Giống như một cơn lốc đầy màu sắc và ầm ĩ, một lũ bốn đứa trẻ vừa
trai vừa gái sàn sàn bằng đầu nhau (cả những thằng con trai cũng giống
Thai) từ ngoài phía Thành Cổ chạy ùa vào giữa gian phòng chụp. Tất cả
mấy đứa trẻ mồ hôi mồ kê nhễ nhại, cười cười nói nói, ngồi quây kín
chung quanh cái chậu thau nước.
Một đứa con gái nhỏ có tướng chúa nghịch nhất bất ngờ hét tướng lên:
- Ông ơi ông!
Miệng hét tay nó giành lấy đôi đũa từ trên tay ông già tôi. Con bé mắt
sáng rực giang cánh tay khoắng một vòng trong cái chậu thau, khuôn mặt
tôi tự nhiên hiện lên trên mặt ngọn sóng hình xoáy ốc, tôi giơ tay chụp bắt
lấy nhưng không kịp, khuôn mặt tôi trong màu sắc đen trắng phơi ngửa ra
chỉ một thoáng chóp mắt bên thành chậu rồi lật nghiêng lại, hòa nhập vào
cùng bao nhiêu khuôn mặt người đời khác. Y như trong một trò chơi đèn
kéo quân, tôi lượn vòng tròn theo cái xoáy sóng chạy hun hút cứ xoáy dần
vào giữa, lúc chạm vào khuôn mặt này, lúc chạy sóng đôi bên một khuôn
mặt khác, lúc cố trồi lên trên mặt sóng, lúc bị nhấn chìm xuống tận đáy,
tưởng đã mất tăm nhưng lại trồi lên được.
Cuối cùng tôi chụp được tấm hình dương của mình ở ngay chính giữa
lòng của một đợt sóng, do bàn tay của cái đứa trẻ chúa nghịch táo tợn
khuấy lên.
Người chủ hiệu ảnh vừa dọa nạt vừa dỗ dành những đứa con cho chúng
nó kéo nhau đi noi khác chơi, ông già tôi khẽ thở phào yên tâm thêm về
một người khách đã tìm ra được ảnh, còn tôi cầm mấy tấm hình của mình
vẫn còn ướt, mềm oặt xuống trên mấy ngón tay.
- Ảnh "phờ lu" quá! Người thợ ảnh lấy làm tiếc, có lẽ tôi phải chụp cho
ông một bức khác.
- Thế này là đẹp lắm rồi bác ạ, - tôi có ý muốn chạy trốn, - đẹp lắm rồi
đấy chứ?
- Ông ngồi đẹp nhưng tôi lại mắc thiếu sót lấy hơi nhiều ánh sáng. Xin
ông đừng quản ngại. Tôi không dám tính thêm tiền - người chủ ảnh quán
lại nhấn mạnh. - Xin ông đừng ngại gì cả. Chúng tôi "phục vụ" chỉ cần
được có tín nhiệm với khách hàng.
Mười lăm phút sau, tôi hấp tấp bước ra khỏi ngôi ảnh quán như một kẻ
đang chạy trốn, trên tay cầm mấy tấm ảnh "phờ lu" nhưng đã để lại ở đấy
một bức hình thứ hai mà tôi chắc chắn là sẽ "nét" hơn nhiều.
Thú thực giá không bất ngờ phát hiện ra ông già tôi cũng đang ở đây
thì có lẽ tôi đã chạy trốn thẳng một mạch, chắc chắn dù người chủ hiệu có
lòng tốt "phục vụ" thì tôi cũng từ chối, chẳng bao giờ ngồi trước ống kính
một lần thứ hai.
Tình cảnh cùng bốn phận sẽ bắt tôi phải trở lại đây với ông già tôi, tôi
phải có cớ để trở lại đây với ông già tôi. Rồi thì cũng như mọi người khác,
tôi vẫn không thể đi trốn được số phận, tôi không thể đi trốn khỏi cuộc đời
mình một khi mà tôi đang còn sống, mặc dầu trong ý nghĩ của hai người
thân nhất đời tôi thì tôi đã chết.
Chiến tranh, kháng chiến, không phải như một số người khác, đến bây
giờ tôi không hề mảy may hối tiếc đã dốc tất cả tuổi trẻ vào đây cống hiến
cho nó, nhưng nó như một nhát dao phạt ngang mà hai nửa cuộc đời tôi bị
chặt lìa thật khó gắn liền lại như cũ. Nhưng đau hơn là hai nửa cuộc đời tôi
cũng không bị cắt lìa hẳn. Ông già tôi đã đi qua nỗi mất mát từ bao nhiêu
năm nay; giờ ông già tôi hẳn cũng đã quên tôi. Thai cũng vậy, giờ Thai đã
có một cuộc đời khác, một người chồng khác với một lũ con cái, nỗi đau
khổ ghê gớm vì mất tôi cũng đã qua đi từ lâu. Vậy cho nên, đáng lẽ chỉ còn
là một kỷ niệm về một người đã khuất, việc tôi đang còn sống đối với
hạnh phúc gia đình riêng của Thai hiện tại sau bao nhiêu năm vất vã chả
khác nào một điềm hăm dọa, tôi chả khác nào một người khách đến không
đúng lúc. Tôi chỉ làm rối thêm cuộc sống, tôi chỉ quấy rầy số phận đã an
bài.
Và cuối cùng tôi vẫn chỉ là một khách lạ - của cái cuộc sống luôn luôn
biến động nhưng bao giờ cũng như đã được sắp sẵn xong đâu đấy.
Người chủ ảnh quán, tôi biết đấy là một con người tốt, khiến tôi yên
tâm, chắc chắn là một người chồng tốt của Thai. Song dù sao tôi cũng chỉ
là một con người, một người đàn ông, dù sao tôi vẫn cứ thấy một thoáng
ghen ty với cái người đàn ông đang hàng ngày sống với Thai, đêm đêm
ngủ cạnh Thai. Vậy mà hơn hai mươi năm trước chúng tôi đã có một mối
tình đẹp, tôi đã cưới Thai, đã là người chồng đầu tiên của Thai, trong chưa
đầy một tuần lễ. Chắc có lẽ tôi là một anh đàn ông có trái tim hẹp, hai mươi
bốn năm nay tôi không yêu một ai, gần như thế, cũng không quên được
mấy ngày sống với nhau ở dưới xóm Đồng Vôi sau đám cưới.
Tôi đã bị chặt lìa ra khỏi ngay cuộc đời mình. Hình như có một tay Lực
khác mới ngoài hai mươi tuổi mặc quần áo vệ quốc đoàn đang đứng bên
Thai trong bức ảnh phóng đại tô màu treo trong ngôi ảnh quán dùng chiêu
khách và một tay Lực đã già nua, đoàn trưởng đoàn "chính sách" đang cùng
trung đoàn của mình lặn lội ở các vùng chiến trường cũ, để lục tìm xương
cốt đồng đội đã hy sinh, cái người đàn ông vẻ mặt trầm ngâm đang dắt một
đứa bé gái nghịch ngợm vừa đi vừa nhảy lò cò trên những phiến gạch vỡ.
Tôi cũng không hiểu làm sao chúng tôi lại có thế làm quen với nhau
nhanh chóng như vậy. Lúc ấy tôi vừa từ trong cái hiệu ảnh bước ra. Tôi
vừa đi vừa ngoái nhìn lại. Đang đi sau tôi là cái con bé nghịch ngợm của
chủ hiệu ảnh ban nãy, nó vừa đi vừa nhảy lò cò trên vỉa hè. Đó là một đoạn
vỉa hè đầy nguy hiếm, người ta đã yết bảng cẩm trẻ con chơi, một chiếc xe
ủi đất lẫn gạch dưới lòng đường thành đống cao như núi, để một chiếc
máy xúc ngoạm từng gầu đổ vào những chiếc xe ben chờ ra sông. Tôi chưa
kịp lên tiếng gọi thì con bé đã thả bàn chân xuống, nó đi trên hai chân về
phía tôi.
- Ông ơi ông, sao ông nhìn con nhiều vậy?
Cặp lông mày của đứa trẻ nhướn lên, một cặp lông mày thanh thanh
đầy diễn cảm và hình như lúc nào cũng động đậy phía trên hai con mắt
trong veo đang ngước nhìn tôi đau đáu dò hỏi. Tôi bất chợt nhận ra tất cả
những nét quen thuộc của Thai được lặp lại trong đứa trẻ đứng trước mặt.
Có một cái gì đó hết sức yếu ớt, nồng nàn và chân thực đến giản dị trong
giọng nói, trong con mắt, trên khuôn mặt và trong mọi điệu bộ như lột ra từ
mẹ nó.
Tiện thế đi qua một mẹt bánh, tôi mua cho nó một chiếc bánh phóng vắt
hình con cá nhưng con bé không ăn, chỉ cầm chơi trên tay. Chúng tôi cầm
tay nhau đi sóng đôi trên những vạt cỏ úa héo, đã bạc phếch bởi từng lớp
bụi bám vào. Bất ngờ con bé ngước lên mách với tôi:
- Ông ơi, con đang tập đi một chân.
- Không nên đâu, tôi bảo nó, khéo ngã đấy cháu ạ!
Con bé mặc một chiếc quần nhung may kiểu quần đi ngựa, đã vá mấy
miếng rất khéo, hai ống quần chật lấm đầy bụi gạch đỏ quạch xắn ngang
bắp chân, lại tiếp tục nhảy lò cò bên vệ đường, rồi kéo tôi đến sát một đoạn
vỉa hè khác, ở đấy nó tập nhảy từ dưới lòng đường lên vỉa hè bằng một
chân.
- Cháu ăn bánh đi! Tôi giục.
Nó liền phản đối:
- Ông không biết hôm nay ngày rằm ư?
-Thì sao?
- Phải cúng rồi mới được ăn - cặp mắt ngây thơ, trong veo vẫn ngước
lên, đầy bí mật nó thì thào - cúng thật mà, vui lắm, ông có đi theo con
không?
Tôi cười:
-Bác là người lớn, ai lại...
- Ông tưởng người lớn không cúng à? Ối người lớn già hơn ông còn
cúng.
- Mẹ cháu có cúng bao giờ không?
- Mạ con hử? Mạ con lại càng chăm cúng, cúng ở nhà xong lại còn ra
đồng cúng.
Con bé bất ngờ buông tay tôi, như một gã con trai, hình như nó chạy
theo một tiếng gọi đầy quyến rũ nào đó từ trong cảnh đổ nát, nó chạy thoăn
thoắt ẩn hiện giữa những phiến gạch lớn ngổn ngang dưới chân thành, nó
leo qua mặt Thành Cố ở quãng đố nát nhiều nhất, một thoáng sau tôi đã
thấy cái bóng đứa con gái mặc quần đi ngựa đang đứng tít trên cao, giữa
hai vách tường gạch sứt sẹo nham nhở như giữa hàm răng của một con thú,
nó sung sướng nhón người giơ tay vẫy tôi rối rít.
Sợ nó ngã, tôi chạy vào.
Khoảng mấy phút sau, con bé quá ngỗ nghịch bỗng hiền khô, đầy trang
trọng nó dắt tay tôi đi vào giữa một bãi tha ma. Con bé biết đâu rằng tôi
cũng chẳng lạ gì chỗ này. Tôi biết đây là bãi tha ma của thôn Hành Hoa.
Những ngày cuối chiến dịch bảy hai, đám lính bộ binh đã mệt lả chúng tôi
đã quần nhau đến nhừ tử với lính thủy quân lục chiến của bên quân ngụy
tại đây, hai bên đã giành đi giật lại cái tha ma nay không biết bao nhiêu lần.
Tôi không khỏi bỡ ngỡ. Ngày nào đang đánh nhau, chúng tôi không hề
nghĩ đây là nơi yên nghỉ của người chết mà chỉ là một khu vực địa hình vô
cùng lợi hại cho bên nào chiếm được, dù chỉ chiếm giữ được vài cái mã.
Hình như bây giơ mồ mả đông đúc hơn và cỏ mọc xanh tốt hơn. Cuộc
chiến vẫn chưa chấm dứt. Nơi yên nghỉ cuối cùng của người chết đến bây
giờ là bãi chiến trường của đám trẻ chăn bò bày trò chơi đánh trận giả la
hét đầy huyên náo. Đối với tôi, cuộc chơi thì giả nhưng nỗi đau là thật.
Chẳng lẽ trên mảnh đất tha ma này? chiến tranh đã trở thành một thứ định
mệnh: Cũng như đám người lớn đã nằm xuống, bọn trẻ chúng lại chạy
nằm, nằm chạy, rình núp, mắt sáng quắc, bắn súng đùng đoàng. Những con
bò đi lang thang, đủng đinh giữa hai làn đạn, thỉnh thoảng ngước mõm lên
trời kêu "ò, ọ" bằng giọng khàn khàn nhưng dầy âm vang vọng vào tận
trong phố.
Con bé không chịu đánh mất phong thái trang trọng bắt chước của
người lớn, khi nó dắt tôi đi xuyên qua giữa hai lưới lửa bắn chéo cánh sẻ,
đưa tôi đến trước một ngôi mộ.
- Đây là hai ngôi mả của nhà con, - bỗng con bé liến thoắng - cái này
với lại cái này.
Nó liền bè chiếc bánh phỏng hình con cá nhuộm phẩm xanh đỏ ra làm
đôi. Hình như có ý cần nhắc, nó đặt nửa miếng bánh phần nào nhỉnh hơn
lên ngôi mộ trước mặt, rồi chạy sang đặt nửa kia lên một ngôi mộ bên
cạnh.
Con bé sau đó phàn nàn với tôi:
- Mả nhà con còn ít lắm. Nhà bọn chúng nó có nhiều hơn.
Tôi hỏi nó:
- Cháu lại thích nhiều ư?
- Con thích nhiều.
- Đấy là những ngôi mả của ai, cháu biết không? Tôi hỏi.
-Có chứ ông. Đây là những ngôi mả má con mới đưa từ dưới làng lên.
Đây là ngôi mả của cha con, còn đây mả chú Hệ. Mạ con dặn bốn anh em
con thế!
Tôi đứng lặng chết điếng, sau khi nghe đứa trẻ nói.
Tôi chạy đến nhìn vào hai tấm đá.
Quá đúng thật, tôi đang đứng ngay trước ngôi mộ của mình.
Tôi bước sang bên cạnh đứng hồi lâu bên mả đứa em. Bên tai tôi bỗng
nghe vang rộn lên tiếng xe trâu kêu rền rỉ. Tôi nhớ ngày năm nào tận xa
xưa thằng Hệ đánh xe trâu chở tôi đi vào rừng gia nhập bộ đội vệ quốc
đoàn. Hai vạt áo nâu mở phanh, nó đánh chiếc xe theo vệt dường mòn kéo
gỗ cứ nhẵn lỳ. Hai bánh gỗ bịt sắt cao lênh khênh lọc cọc leo dốc. Con trâu
nhà tôi trái tính trái nết, bướng bỉnh. "Hầy, hầy". Tiếng thằng Hệ thúc trâu
đầy gượng nhẹ... Lần về thăm nhà năm 1959 tôi không gặp thằng Hệ. Đã
ngoài hai mươi năm anh em không gặp nhau. Chắc chắn ở bên dưới kia là
hài cốt thằng em trai của tôi thật, chứ không phải như ngôi mộ của tôi không biết một người nào đang nằm dưới đó?
Nước mắt tôi cứ muốn trào ra, thằng Hệ đứa em cầm súng chiến đấu ở
quê hương như thế là đã hy sinh thực. Và Thai đã đem cả gia đình tôi, cả
người còn sống lần người đã chết, về đây.
- Ta ra khỏi đây thôi cháu.
Tôi buồn bã nắm bàn tay đứa trẻ.
- Ông vái đi.
Rồi nó lại thêm:
- Để con còn hạ cỗ.
Tôi chắp tay vái trước ngôi mộ thằng Hệ xong mới qua sang vái trước
ngôi mộ của mình.
Con bé, rất tự nhiên, nhón tay nhặt hai nửa chiếc bánh phỏng.
Như một kẻ lang thang, chẳng biết từ lúc nào hai bàn chân đã dẫn tôi
đến trước cái vòm cuốn rất tân kỳ cổng chợ Thành Cố. Nhưng vừa bước
vào mới mấy bước, như phải lửa tôi đã vội vã quay trở ra. Con bé lấy làm
ngạc nhiên, túm chặt lay tay tôi trì lại:
- Ông ơi, ông vào với con đi, trong chợ vui lắm!
Nó đưa tay quệt ngang mép để phi tang những mấu vụn bánh, tiếp tục
chèo kéo:
- Ông vào với con đi, mạ con ngồi đàng kia rồi!
Tôi lại càng phải vội vã rút lui thật nhanh.
Ở bên ngoài cổng chợ, tôi len lỏi, chen lấn giữa đám đông như nêm,
nắm chặt tay tôi cái đứa nhỏ vẫn còn cứ nằng nặc đòi đi chơi chợ, nhưng
con mắt tôi không ngừng quay về sau. Tôi biết Thai đang ngồi ở đâu trong
mấy dãy lều quán, sau một cái sạp hàng bày lộn xộn, la liệt trăm thứ bà
dằn, từ gương lược, ruột bấc đèn đến những phong sáp, thẻ hương... Ngoài
hai chục năm về trước trong cái đêm cùng tôi chống đò đi dỡ sắn trên rẫy,
chắc hẳn không bao giờ Thai đoán được mình lại làm cái nghề ngồi bán
hàng xén ở chợ? Thực tình sau cái hôm lần đầu biết rằng Thai là vợ người
chủ ảnh quán, tôi đã tìm vào trong chợ, kéo sụp mũ xuống, lượn đi lượn lại
trước cái sạp hàng xén ấy nhiều lần.
Nhưng lần này thì tôi không thể bước vào với con bé thông minh và
tinh quái này ở bên cạnh. Tôi dừng trước một bà lão bán bánh phỏng trước
cửa chợ, mua cho nó cả một gói.
Đến bây giờ tôi mới kịp hỏi:
- Tên cháu là gì?
- Thơm. Nghĩa là mùi thơm ấy. Còn ông tên là gì?
Tôi hơi luống cuống:
- Ông không có tên.
- Không thích ông! - Con bé bất ngờ phụng phịu - con giả ông bánh
phỏng đây...
Tôi phái vội vàng bịa ra một cái tên khác cho mình và ấn lại cái gói
bánh vào ngực nó. Nhưng lạ thay, mặt mũi đứa trẻ trở nên hết sức âu sầu
buồn bã. Nó cụp hàng mi xuống trong lúc hỏi tôi:
- Ông không muốn gặp mạ con à?
- Thơm, sao cháu lại nói thể?
- Lúc nãy con thấy ông chạy.
Tôi cúi xuống bế xốc đứa con gái nhỏ của Thai trên tay. Tôi hôn mãi
lên nửa bên mặt có cái răng khểnh của nó và cảm thấy một con mắt cùng
nửa mặt bên kia của đứa trẻ đang nhìn tôi - tưởng như người chủ ảnh quán
đang nhìn tôi.
III
ôi đặt đứa trẻ xuống. Tự nhiên tôi hơi ngượng với nó đồng thời cảm
thấy một chút hơi hướng của một người đàn bà mà ký ức đầy hoang
vắng của tôi còn giữ gìn được cùng với những ngày tháng, những
khung cảnh tôi đã đánh mất.
Tôi chợt nhớ lại ngày ấy cưới Thai về bên nhà tôi xong, tuy chỉ còn
phép được ở nhà có mấy ngày nhưng tôi tranh thủ làm được khối việc cho
cha tôi. Sáng nào tôi và Thai cũng đánh chiếc xe trâu vào rừng chặt củi. Có
hôm hai đứa chống chiếc thuyền gỗ ngược dòng sông Đồng Vôi lên những
vùng thung lũng tận trong khe núi, mãi tối mịt mới về. Dạo ấy đang giữa
tháng mưa, con sông Đồng Vôi trước làng ngập đầy nước ăm ắp, gia đình
nào cũng hạ những chiếc thuyền buộc úp sau vách liếp xuống đế đi đào sắn
hoặc đi cắt tranh về dọi nhà. Thai mảnh khảnh như chiếc lạt mà sức dai
hơn tôi . Cả ngày đi làm, tối về lại đi gác, đi hội họp với anh chị em du
kích Có hôm mãi gần nữa đêm mới mò về gõ cửa buồng cành cạch: "Anh
Lực, anh Lực". Tôi đã choàng thức dậy nhưng lại giả vờ ngáy rất to. Thai
vòng ra sau nhà lấy báng súng gỗ vào vách liếp chỗ đầu giường. Cha tôi
nằm ngoài hè phái lên tiếng: 'Mi ngủ chi mà ngủ như chết vậy Lực?" Thai
biết thừa tôi dang trêu cô nên liền đánh tiếng: 'Anh ấy ngủ say lắm, vậy thì
con trở ra ngoài trạm gác ngủ với các chị em vậy?". Tôi cố nhịn cười, lần
dậy đi rón rén tới kéo cái then cài cửa. Tôi quẹt diêm châm đèn nói nghiêm
trang:
- Em đưa c...
CỎ LAU
Tuyển tập Truyện ngắn hay nhất của
Nguyễn Minh Châu
NXB Văn Học - 2019
Cỏ Lau - NXB Văn học - 1994
I
ột dãy khuôn mặt người hiện ra trước mắt tôi, dọc theo một bức vách
bằng gỗ dán lỗ chỗ vết đạn bắn. Chẳng khó khăn gì lắm, căn cứ vào
nước thuốc và cách ăn mặc trong các bức ảnh, tôi cũng có thể nhận
ra chỉ có đôi ba bức mới chụp từ ngày dọn về đây, còn thì hầu hết là những
bức cũ được chụp dưới thời ngụy, khi chủ hiệu còn trương biển ở các
thành phố trong Nam những năm phiêu dạt chạy bom đạn, lại có mấy bức
quý giữ được từ ngày cái thị xã này còn nguyên lành, hồi chủ hiệu còn cái
nhà ảnh quán hai tầng đầy khang trang trên một con phố đã bị vùi lấp.
- Cô này nguyên ngày trước là học sinh trường Bồ Đề. Người trong bãi
cát. Là một trong mấy người đẹp nối tiếng của cái thị xã tỉnh lẻ này cách
đây mươi năm.
Người thợ ảnh nay đã luống tuổi tuy vẫn còn trẻ hơn tôi nhiều đi phía
sau mau mắn giới thiệu:
- Bây giờ ở đâu?
M
- Làm sao biết được hả thưa ông. Xưa nay, nhan sắc và chiến tranh...
Có thể đã chạy ra nước ngoài, hay đã chết mất rồi? Cái thị xã Quảng Trị
này, chắc ông đã biết rõ, chiến sự chà đi sát lại mấy phen, đến một nửa hòn
gạch nguyên lành cũng chẳng còn thấy, giá có còn thì cũng không còn nằm
ở chỗ nhà cũ. Huống hồ là con người.
- Nửa năm nay, - tôi hỏi, - người cũ chạy ra đi có trở về đây nhiều
không?
- Thưa ông ít lắm. Chỉ còn chút tình quê hương chứ nhà cửa, phố xá chỉ
còn một đống gạch vỡ cho cỏ lau mọc. Còn gì nữa đâu mà về.
- Về thăm, chẳng lẽ cũng không ư?
- Hồi mẩy tháng đầu, khi anh em bộ đội chưa trỏ lại đào bới hài cốt,
khi máy ủi, máy xúc chưa san, cũng có nhiều gia đình trở về muốn lập
nghiệp trở lại trên cái nền đất cũ. Nhưng sức hai bàn tay làm gì nổi? Ông
coi, đến tìm ra chỗ cái nền nhà mình cũng khó khăn lắm. Rồi cũng chỉ ngủ
lại một vài đêm giữa gạch vỡ, giữa lau lách, ngủ chung với cầy cáo, rắn rết
rồi lại kéo nhau mà đi thôi, về sau này, máy móc dọn dẹp được vài đường
phố, lại thấy có người trở về. Nhưng đến bây giờ, đất nền nhà, nền phố đã
trở thành đất công. Phải dùng để xây dựng cơ quan, trụ sở, hội trường, với
lại khu tập thể gia đình cán bộ...
- Bây giờ họ ở đâu cả?
- Như dân Do Thái. Đến bây giờ một phần lớn dân thị xã này đã lập
nghiệp hẳn trong Nam, hoặc ở các tỉnh miền Trung tận phía trong, làm
rừng, làm ruộng, làm biển. Mà cũng phân tán, rải rác mỗi tỉnh một ít.
Nhưng cái dân Quảng Trị đi đâu cũng làm ăn càn cù, cũng nuôi nấng, che
chở cách mạng, Như gia đình chúng tôi mấy năm chạy vào Sài Gòn, nhà tôi
vẫn nuôi giấu cán bộ.
- Hồi ấy, có một ít bà con chạy ra được...
- Cũng cái trận hồi bảy hai, có một số may mắn chạy ra miền Bắc
được, khi trở về lại được cấp đất ở ngoài Đông Hà. Hóa ra lại càng may
mắn. Ở ngoài ấy có con đường số 9, có cái cửa khẩu thông sang Lào, bây
giờ làm ăn, buôn bán còn dễ dàng hơn trở về trong này nhiều.
Trò chuyện vòng vo mãi, đắn đo mãi, tôi mới dám giơ tay trỏ một bức
ảnh chụp một cặp vợ chồng mới cưới, mới được phóng đại và tô màu bằng
thuốc nước, treo ở hàng ảnh trên cao. Người thợ ảnh hào hứng hẳn lên,
mau mắn thuyết minh:
- Đây là bức ảnh kỷ niệm riêng của nhà tôi. May sao nhà tôi còn giữ
được. Tôi phải mất nhiều công lắm mới khôi phục lại được bức ảnh này.
Ông xem, nước ảnh chụp đã lâu... từ kháng chiến chống Pháp. Mà chắc
chắn là nước ảnh của bên kháng chiến mình.
- Phải, - tôi nhấc cặp kính lão xuống chà lên vạt áo quân phục rồi đeo
lên, bình phẩm - phải, anh bộ đội mặc tấm áo rét kiểu trấn thủ, đúng là bộ
đội thời vệ quốc đoàn.
- Vâng, thưa ông, anh bộ đội đó đã anh dũng hy sinh, là người chồng
trước đây của nhà tôi - người chủ hiệu ảnh càng cởi mở - tôi phải thuyết
phục mãi nhà tôi mỏi thuận cho đem treo ra phòng ảnh, chiêu khách ở
ngoài này.
Tôi chép miệng nhỏ:
-Nhưng để làm gì nhỉ?
- Ông hãy đi một vòng thử coi, thị xã mới tụ họp về dưới chính quyền
của bên phía cách mạng ta, sau bao năm sõng dưới chế độ cũ. Cho nên các
nhà hàng mới mở cửa chung quanh khu chợ Thành Cổ này nhà nào cũng
treo lên một bức ảnh hay tờ tranh vẽ bộ đội duyệt binh ở quảng trường Ba
Đình, lại còn mở băng nhạc cách mạng tưng bừng. Nhà hàng ảnh chúng tôi
lại có cả một anh bộ đội mặc quần áo từ hồi vệ quốc đoàn đánh Tây. Có
phải không ông, nó quý hiếm lắm chứ?
- Vâng, thật quý lắm! Tôi lau lại đôi mắt kính, với vẻ kín đáo tôi lại
ngước mắt ngắm cái người đàn bà mới trạc chưa đến hai mươi, tươi giòn,
một dáng đứng trẻ trung trông cứ von vón, đầu hơi ngả về phía vai người
chồng mặc áo trấn thủ "anh dũng hy sinh". Khác với người ta hay nói, tôi
nhận thấy cái chết không hề để lại một chút dấu vết gì trên khuôn mặt
người lính của một thời kháng chiến chống Pháp đầy gian khổ. Một cặp
mắt hình quà trám hơi xếch, một khuôn mặt vuông chữ điền của nông dân
miền Trung hơi cứng, lại vẩn có nét gì lãng mạn cứ phơi phới coi nhẹ cái
chết và không thèm vướng bận thế nhi, như có ngọn gió ngày đầu cách
mạng đang thổi từ trong lòng.
Tôi đã xem đến bức ảnh cuối cùng. Một thiếu nữ mặt gãy có mái tóc
uốn công phu, những lớp tóc như những làn sóng đang xô đuổi nhau, hai
hàm răng trắng và đều đặn cắn một chiếc gọng kính mát cầm trên tay. Tôi
dời mắt khỏi cái nụ cười mỉm của thiếu nữ ấy chỉ một khoảng cách chừng
vài ly mét đã trông thấy một đoạn Thành cổ màu gan gà đố nát hiện ra giữa
một rừng lau lách và một khoảng trống tiếp theo do khúc thành đã hoàn
toàn bị san bằng, nơi cái tổ chốt của chúng tôi bao gồm toàn cán bộ bộ binh
lẫn trinh sát pháo binh, hóa học, đến bây giờ chỉ còn sót lại một mình tôi
còn sống - ở ngay phía sau cái khoảng thành trống hoác ấy, bây giờ hiện ra
mặt nước màu kẽm của một khúc sông Thạch Hãn đang tỏa khói mơ màng,
ngay bên hồi nhà của cái cửa hiệu ánh lợp bằng những tẩm ghi sắt lỗ chỗ
vết đạn bắn từ hai phía.
Tôi nhìn lướt trở lại một lần thứ hai các khuôn mặt được trưng bày dọc
bức vách gỗ - như lần giở nhanh một quyển an bom cũ sau bao nhiêu biến
thiên ghê gớm của chiến tranh vừa nhào nặn những số phận đời người trong lúc người thợ chụp ảnh nhắc tôi lần thứ hai:
- Mời ông vào!
Một con chó giống Đức to cao lừng lững ngang một con bê từ một
khuôn cửa sổ hình chữ nhật nằm ngang mở ra lối vườn phía sau nhảy
chồm vào nhà. Gian nhà trong hơi tối. Những dãy cuốn phim có lẽ vẫn còn
ướt kẹp bằng những chiếc kẹp phơi quần áo bằng gỗ treo giăng giăng kín
cả khuôn cửa sổ, vì thế khi con chó nhảy qua, một cuốn phim ảnh đã bị lôi
xuống vướng trên tấm lưng lực lưỡng có bộ lông màu vàng sẫm như lông
hố của con chó.
- Lu, Lu!
Người thợ ảnh gọi con chó bằng giọng khe khẽ đầy lịch sự, vươn dài
người giơ tay nhặt lấy cuốn phim từ lưng con chó, cầm chênh chếch trong
hai bàn tay, bỗng kêu lên đầy vui vé:
- Đây rồi, thế mà tìm mãi...
Một khách hàng chạy lại. Một anh bộ đội mặt mày rám nắng đầy phong
trần nhưng vẫn còn khá trẻ. Tôi nhận ra anh ta bước vào nhà hàng này cùng
lúc với tôi cách đây mấy ngày, trong lúc đi sóng đôi bên người vợ mới
cưới đầy bẽn lẽn và rạng rỡ hạnh phúc.
- Đẹp lắm - người thợ ảnh bình phẩm, một con mắt nheo lại, giơ một
ngón tay trỏ vào một khúc phim cho người bộ đội đứng dàng sau đang nhìn
qua cái vai áo bờ-lu-dông màu nghệ thối có con đĩa uốn vồng lên của
người thợ ảnh - đẹp lắm, theo tôi, hai "pô" sau cùng là đẹp hơn cả. Nhất là
trông chị rất tự nhiên. Anh nên in thêm.
- Vâng, bác cho mỗi "pô" độ một vài chục tấm.
- Nhiều thế cơ? Thôi được - người thợ ảnh hài hước - cũng là may có
con Lu Lu vô tình đã giúp tôi tìm thấy được anh chị. Đây là kết quả của cái
tính lộn xộn của nhà tôi. Anh biết không, hai ngày nay hễ có khách đến lấy
ảnh là tôi cứ phái lục tung lên.
Con chó to lớn đi qua trước mặt tôi với một vẻ khinh khỉnh đầy kênh
kiệu, cái mặt dài thuỗn và nửa dưới đen sì không hề quay về phía tôi. Nó
đứng giữa gian phòng ảnh chiêu khách bên ngoài, lơ đễnh đưa mắt ngắm
những đám bụi đỏ bay cuộn tròn trong trận gió "Ông cụt" mờ mịt che khuất
cả dãy đàn bà ở chợ Thành Cổ về đang đi giăng giăng ngoài bờ sông Thạch
Hãn.
Trong khi bước qua cái khuôn cửa lớn phía trên đầu treo bức ảnh
phóng đại tô màu cặp vợ chồng người bộ đội vệ quốc đoàn, tôi đã biết
chắc chắn người đàn bà đang đứng trên đầu tôi kia phải đến trưa hay nửa
chiều mới gánh gánh hàng từ ngoài chợ Thành Cổ về. Cho nên tôi có thế
yên tâm rời gian phòng hẹp và sáng bên ngoài, bước vào cái gian bên trong
lúc nào cũng tôi mờ mờ như một thứ ánh sáng giả trên sân khấu. Đấy
không phải là một gian phòng ỏ mà chỉ dùng làm phòng chụp, với dây dợ,
những ngọn đèn chiếu cùng vô số những tấm phông. Cũng như lần trước,
tôi lại có cảm tưởng lọt vào giữa một cái két sắt bởi không hiểu sao người
thợ ảnh lại phải dựng gian phòng chụp chắc chắn đến như vậy. Đấy là một
gian phòng bốn bề đều ghép bằng ghi trần nhà, nền nhà cũng lát bằng
những tẩm ghi có lỗ hoặc ghi tổ ong i-nôc có lẽ được lột từ sân bay quân sự
Ái Tử hoặc một căn cứ nào đó ở chung quanh.
Chủ ảnh quán không ngớt lời xin lỗi tôi. Ông đúng sau quầy đưa ra một
tệp những chiếc phong bì nhỏ bằng giấy xi măng, liên tiếp lôi ra những
khuôn mặt và dáng hình người đứng ngồi đủ các kiếu. Tôi không tìm thấy
tôi trong số đó. "Phiền ông nhiều quá, chúng tôi thật không phải một chút
nào!" Tôi đi theo người chủ ảnh quán giàu tế nhị. Sau một bức màn bằng
vái tím treo lơ lửng che khuất một góc nhỏ bên phải cái "két sắt" vẳng đưa
ra giọng cười khúc khích của phụ nữ và những tiếng nói nhát gừng của một
ông già nào đó khiến tôi hết sức nghi hoặc. Tôi vén lá màn nhẹ nhàng bước
vào.
Cái ông già đang ngồi đó mà tôi trông thấy trước tiên khiến tôi đứng
sững: Hóa ra chính là ông già tôi. Ông già tôi vẫn còn sống nhưng đã già đi
đến mức thế? Cái đầu bây giờ không còn một sợi tóc, lại đầy gầu, nom cứ
mốc trắng, quá nhỏ bé như đầu một con chim lớn đã bị vặt trụi hết lông.
Một bộ quần áo may bằng vài chúc bâu trắng nhưng đã ngã màu cháo lòng
rộng thùng thình trong cái thân thế gầy và dài cứ nguềnh ngoàng. Ông già
tôi đi đâu mà lần trước đến đây tôi không thấy nhỉ? Ông đang cầm một
chiếc đèn pin cột lủng lẳng hai cục pin khối giơ cao trên đầu ba cô gái và
một đứa bé con trai. Trông cách ăn mặc tôi đồ chừng họ từ dưới miền biển
Triệu Phong hay Hải Lăng lên. Một chiếc chậu thau tráng men đựng đầy
nước để giữa, đang được chiếu sáng từ luồng đèn pin. Trên tay ông già, tay
kia, cầm một đôi đũa không ngừng lật ngửa từng chiếc ảnh ớ trong chậu
thau nước.
Mắt kính tôi đã ướt đẫm. Bà già tôi mất sớm. Tôi và thằng Hệ được
ông già tôi nuôi từ khi một đứa lên bốn, một đứa chưa đầy năm. Lớn lên,
thằng Hệ sống ở làng, còn tôi hơn nửa đời người biền biệt tận ngoài miền
Bắc, mang đơn vị luồn vào đánh đấm một chập rồi rút ra đến thằng em
làm du kích ở xã dưới vùng sâu cũng chẳng bao giờ được gặp. Trông thấy
ông già đang ở đây, tự nhiên tôi nảy ra một mối lo sợ: Thằng Hệ chẳng còn
sống? Vì thế nên Thai mới phải nuôi cha tôi. Mới đây tôi mới nghe tin
phong phanh thằng Hệ đã hy sinh nhưng nguồn tin không chính xác lắm.
Tôi vẫn đau đáu ngắm người cha gần như đã trở thành một ông già xa
lạ. Tôi vẫn không thôi ngắm cái luồng ảnh sáng trên bàn tay run run đang
chiếu xuyên qua cái chậu thau nước có khuôn mặt người trên giấy ảnh nằm
úp sấp hoặc vừa được lật ngửa ra đang trôi nổi, , chiếu sáng trưng một một
cái đêm đen như mực của mười sáu năm về trước, tôi nằm dán bụng giữa
một khúc lạch nước đầy váng bẩn tanh rềnh, sau một bờ dậu bằng cây sắn.
Lần trở về làng ấy có Hiềm cùng đi với tôi. Tôi căng mắt theo dõi động
tỉnh của mấy nhà "liên gia" ở chung quanh. Không thấy gì khả nghi tôi
mới ra ám hiệu cho Hiềm đang nằm phía sau bằng một tiếng kêu "chít,
chít" như tiếng chuột. Hiềm đáp lại. Tôi bò vào. Kể từ ngày ra miền Bắc
sau chiến dịch Thu - Đông năm 1951, đã tám năm tôi mới trở về nhà. Ngôi
nhà cũ không còn nữa. Những vườn tiêu, những chuồng trâu cũng bị xe Mỹ
ủi đi sạch. Tre pheo bao quanh nhà cũng bị ủi, chỉ thỉnh thoáng mới thấy
hiện lên đột xuất ở một góc đâu đó vài đọt tre như chiếc cần câu lắt lay
dựng đứng giữa đêm tối. Bò từ ngoài bờ sông Đồng Vôi vào giữa làng,
tịnh không ngửi thấy mùi phân trâu, cái mùi phân trâu nồng nàn và quen
thuộc của làng xóm yên bình. Cá xóm Đồng Vôi cứ lạnh ngắt, trống huếch
trống hoác, trắng xóa như một vùng bị bệnh dịch hạch được rắc vôi bột.
Thằng Hệ bữa đó phái đi ngủ tập trung ngoài trụ sở dân vệ, chỉ có một
mình ông già tôi nằm trong nhà. Ông già nằm theo dõi đã nghe thấy tôi
đang nén thở nằm dán vào như con thằn lằn bên cối giã gạo đầu hồi nhà.
Thật ra đâu có phái cái nhà, chỉ là một cái hộp có nóc nhọn bằng tôn. Tôi bò
lần về phía cửa trước, đưa mấy ngón tay cào lên tấm tôn che cửa. Đến lần
thứ ba mới nghe tiếng trở mình rất khẽ, ông già mở cứa bước ra đi đái.
Lúc trở vào, thấy tôi đã ngồi giữa nhà, ông lão không hề lấy làm lạ, trong
cuống họng bật lên mấy tiếng "hực, hực" nhưng vội nén ngay, đưa tay sờ
hết mặt mũi tôi. Câu đầu tiên tôi hỏi ông già:
- Thai nó đâu hả cha?
-Trên nhà lao tỉnh.
- Chúng bắt vợ con vì tội gì?
- Vì có chồng ớ miền ngoài.
Tôi ngồi nghi một lúc:
- Hay là... lại bàn tay thằng Nhi?
- Nó chứ ai, bây giờ nó làm chức gì ở trên quận. Cỡi xe máy về làng
luôn luôn. Nó đang theo dò cái nhà này chặt lắm. - Lặng thinh một lúc cha
tôi lại nói tiếp. - Cha có nghe con đã trò về trong này. Lại nghe từ mồm
chúng nó nói.
- Thường đêm chúng nó có phục quanh nhà mình không? - Tôi hỏi.
- Có. Vài đêm lại thấy có đứa cào cửa, xưng tên là thằng Lực trên xanh
về. Cha nằm trong nhà nghe hơi thở của chúng nó, biết ngay..
Ông già lại "hực hực", lại đưa tay sờ mặt tôi:
- Con đi đi! Làm sao con phải vượt qua sông trước canh hai.
Tôi dùng dằng bên người cha mất một hồi lâu. Cha tôi phải xô ra. Tôi
với Hiềm bơi qua sông Đồng Vôi, sắp đạp sang bờ bên kia thì nghe bên
này có tiếng hô hoán, tiếng mõ đánh, được một lúc thấy đạn bắn nhoáng
nhoáng vàng cả mặt nước.
Toi cũng chỉ có dịp về nhà một lần ấy. Một năm sau tôi lại bị rút đi trở
về chủ lực. Công việc dưới vùng sâu bàn giao lại cho Hiềm.
Chỉ cách đây mấy ngày, tôi có đảo qua về xóm Đồng vôi cùng một tổ
trong đoàn "chính sách" mục đích tìm mộ Hiềm nhưng không thể nào tìm
thấy. Khoảng một năm sau lần tôi trở về, địch đã dồn hết dân xóm Đồng
Vôi của tôi vào trong khu tập trung Cùa, để nắm dân cho được chặt hon.
Đồng Vôi bây giờ là một khu rùng hoang ban ngày cò đỗ cứ trắng cả và
ban đêm đom đóm bay sáng đất, lạ quá, y như đã trở thành xứ đất riêng
của loài đom đóm. Về cái chết của tôi, sau nửa tháng kế từ ngày tôi phát
hiện ra tất cả dấu vết của mình ở cái hiệu ảnh - mới được lý giải, tôi mới
vỡ nhẽ: Vào một buổi trưa sau ngày Thai đi tù về chưa đầy hai tháng có
một người đàn bà trong xóm vác cái phạng đi qua ngoài hàng rào cây sắn.
Đi qua nhà tôi, người đàn bà không nhìn vào, chỉ giả vờ vấp một cái đánh
rơi cái phạng, cúi xuống nhặt, miệng thốt lên một câu trống không: "Ra bờ
sông mà coi kìa, cá lẹc rúc bèo tây chết ươn thối!".
Lúc bấy giờ Thai, vợ tôi, nghe xong liền biến sắc. Vứt chiếc áo đang
vá dở, Thai chạy vào nhà bếp giựt cái giỏ treo trên bức vách liếp, thong thả
đi ra bờ sông. Hai bờ sông vắng hoe. Có quãng bèo tây giạt về bịt kín mặt
nước. Thai nhảy ùm xuống nước, vét bùn trát đầy người nhem nhuốc, một
tay xách giỏ, một tay cầm chiếc nia sắt có ngạnh, cứ dọc sông mà đi. Đến
một cái âu nơi dân xóm ngày trước đào lấy đá ong về xây tường - thấy
một cái xác người nằm ngửa. Thai đi qua, cố ý đi chậm lại, đưa mắt nhìn
xuống. Xa tôi đã tám năm nhưng Thai vẫn nhớ rõ ràng mặt mũi tôi, cái
người đàn ông hai tay bị trói giật cánh khuỷu, có nhiều vết dao đâm trên
người, đang nằm rúc trong đám bèo tây.
Đêm hôm ấy, Thai, thằng Hệ và cha tôi cùng mấy đồng chí cũ tìm cách
bí mật đưa tôi về được trong xóm, hì hục chôn cất. Không một que nhang,
không một tiếng khóc.
II
M
ột cái mặt người nào đó giống Hiềm, lại một cái mặt nào đó giống
tôi cứ được lật lên. Có lúc từ đôi đũa trên tay ông già tôi rất khẽ
khàng và run rẩy lật lên một cái mặt giống thằng Hệ, khiến tôi giật
mình.
Giống như một cơn lốc đầy màu sắc và ầm ĩ, một lũ bốn đứa trẻ vừa
trai vừa gái sàn sàn bằng đầu nhau (cả những thằng con trai cũng giống
Thai) từ ngoài phía Thành Cổ chạy ùa vào giữa gian phòng chụp. Tất cả
mấy đứa trẻ mồ hôi mồ kê nhễ nhại, cười cười nói nói, ngồi quây kín
chung quanh cái chậu thau nước.
Một đứa con gái nhỏ có tướng chúa nghịch nhất bất ngờ hét tướng lên:
- Ông ơi ông!
Miệng hét tay nó giành lấy đôi đũa từ trên tay ông già tôi. Con bé mắt
sáng rực giang cánh tay khoắng một vòng trong cái chậu thau, khuôn mặt
tôi tự nhiên hiện lên trên mặt ngọn sóng hình xoáy ốc, tôi giơ tay chụp bắt
lấy nhưng không kịp, khuôn mặt tôi trong màu sắc đen trắng phơi ngửa ra
chỉ một thoáng chóp mắt bên thành chậu rồi lật nghiêng lại, hòa nhập vào
cùng bao nhiêu khuôn mặt người đời khác. Y như trong một trò chơi đèn
kéo quân, tôi lượn vòng tròn theo cái xoáy sóng chạy hun hút cứ xoáy dần
vào giữa, lúc chạm vào khuôn mặt này, lúc chạy sóng đôi bên một khuôn
mặt khác, lúc cố trồi lên trên mặt sóng, lúc bị nhấn chìm xuống tận đáy,
tưởng đã mất tăm nhưng lại trồi lên được.
Cuối cùng tôi chụp được tấm hình dương của mình ở ngay chính giữa
lòng của một đợt sóng, do bàn tay của cái đứa trẻ chúa nghịch táo tợn
khuấy lên.
Người chủ hiệu ảnh vừa dọa nạt vừa dỗ dành những đứa con cho chúng
nó kéo nhau đi noi khác chơi, ông già tôi khẽ thở phào yên tâm thêm về
một người khách đã tìm ra được ảnh, còn tôi cầm mấy tấm hình của mình
vẫn còn ướt, mềm oặt xuống trên mấy ngón tay.
- Ảnh "phờ lu" quá! Người thợ ảnh lấy làm tiếc, có lẽ tôi phải chụp cho
ông một bức khác.
- Thế này là đẹp lắm rồi bác ạ, - tôi có ý muốn chạy trốn, - đẹp lắm rồi
đấy chứ?
- Ông ngồi đẹp nhưng tôi lại mắc thiếu sót lấy hơi nhiều ánh sáng. Xin
ông đừng quản ngại. Tôi không dám tính thêm tiền - người chủ ảnh quán
lại nhấn mạnh. - Xin ông đừng ngại gì cả. Chúng tôi "phục vụ" chỉ cần
được có tín nhiệm với khách hàng.
Mười lăm phút sau, tôi hấp tấp bước ra khỏi ngôi ảnh quán như một kẻ
đang chạy trốn, trên tay cầm mấy tấm ảnh "phờ lu" nhưng đã để lại ở đấy
một bức hình thứ hai mà tôi chắc chắn là sẽ "nét" hơn nhiều.
Thú thực giá không bất ngờ phát hiện ra ông già tôi cũng đang ở đây
thì có lẽ tôi đã chạy trốn thẳng một mạch, chắc chắn dù người chủ hiệu có
lòng tốt "phục vụ" thì tôi cũng từ chối, chẳng bao giờ ngồi trước ống kính
một lần thứ hai.
Tình cảnh cùng bốn phận sẽ bắt tôi phải trở lại đây với ông già tôi, tôi
phải có cớ để trở lại đây với ông già tôi. Rồi thì cũng như mọi người khác,
tôi vẫn không thể đi trốn được số phận, tôi không thể đi trốn khỏi cuộc đời
mình một khi mà tôi đang còn sống, mặc dầu trong ý nghĩ của hai người
thân nhất đời tôi thì tôi đã chết.
Chiến tranh, kháng chiến, không phải như một số người khác, đến bây
giờ tôi không hề mảy may hối tiếc đã dốc tất cả tuổi trẻ vào đây cống hiến
cho nó, nhưng nó như một nhát dao phạt ngang mà hai nửa cuộc đời tôi bị
chặt lìa thật khó gắn liền lại như cũ. Nhưng đau hơn là hai nửa cuộc đời tôi
cũng không bị cắt lìa hẳn. Ông già tôi đã đi qua nỗi mất mát từ bao nhiêu
năm nay; giờ ông già tôi hẳn cũng đã quên tôi. Thai cũng vậy, giờ Thai đã
có một cuộc đời khác, một người chồng khác với một lũ con cái, nỗi đau
khổ ghê gớm vì mất tôi cũng đã qua đi từ lâu. Vậy cho nên, đáng lẽ chỉ còn
là một kỷ niệm về một người đã khuất, việc tôi đang còn sống đối với
hạnh phúc gia đình riêng của Thai hiện tại sau bao nhiêu năm vất vã chả
khác nào một điềm hăm dọa, tôi chả khác nào một người khách đến không
đúng lúc. Tôi chỉ làm rối thêm cuộc sống, tôi chỉ quấy rầy số phận đã an
bài.
Và cuối cùng tôi vẫn chỉ là một khách lạ - của cái cuộc sống luôn luôn
biến động nhưng bao giờ cũng như đã được sắp sẵn xong đâu đấy.
Người chủ ảnh quán, tôi biết đấy là một con người tốt, khiến tôi yên
tâm, chắc chắn là một người chồng tốt của Thai. Song dù sao tôi cũng chỉ
là một con người, một người đàn ông, dù sao tôi vẫn cứ thấy một thoáng
ghen ty với cái người đàn ông đang hàng ngày sống với Thai, đêm đêm
ngủ cạnh Thai. Vậy mà hơn hai mươi năm trước chúng tôi đã có một mối
tình đẹp, tôi đã cưới Thai, đã là người chồng đầu tiên của Thai, trong chưa
đầy một tuần lễ. Chắc có lẽ tôi là một anh đàn ông có trái tim hẹp, hai mươi
bốn năm nay tôi không yêu một ai, gần như thế, cũng không quên được
mấy ngày sống với nhau ở dưới xóm Đồng Vôi sau đám cưới.
Tôi đã bị chặt lìa ra khỏi ngay cuộc đời mình. Hình như có một tay Lực
khác mới ngoài hai mươi tuổi mặc quần áo vệ quốc đoàn đang đứng bên
Thai trong bức ảnh phóng đại tô màu treo trong ngôi ảnh quán dùng chiêu
khách và một tay Lực đã già nua, đoàn trưởng đoàn "chính sách" đang cùng
trung đoàn của mình lặn lội ở các vùng chiến trường cũ, để lục tìm xương
cốt đồng đội đã hy sinh, cái người đàn ông vẻ mặt trầm ngâm đang dắt một
đứa bé gái nghịch ngợm vừa đi vừa nhảy lò cò trên những phiến gạch vỡ.
Tôi cũng không hiểu làm sao chúng tôi lại có thế làm quen với nhau
nhanh chóng như vậy. Lúc ấy tôi vừa từ trong cái hiệu ảnh bước ra. Tôi
vừa đi vừa ngoái nhìn lại. Đang đi sau tôi là cái con bé nghịch ngợm của
chủ hiệu ảnh ban nãy, nó vừa đi vừa nhảy lò cò trên vỉa hè. Đó là một đoạn
vỉa hè đầy nguy hiếm, người ta đã yết bảng cẩm trẻ con chơi, một chiếc xe
ủi đất lẫn gạch dưới lòng đường thành đống cao như núi, để một chiếc
máy xúc ngoạm từng gầu đổ vào những chiếc xe ben chờ ra sông. Tôi chưa
kịp lên tiếng gọi thì con bé đã thả bàn chân xuống, nó đi trên hai chân về
phía tôi.
- Ông ơi ông, sao ông nhìn con nhiều vậy?
Cặp lông mày của đứa trẻ nhướn lên, một cặp lông mày thanh thanh
đầy diễn cảm và hình như lúc nào cũng động đậy phía trên hai con mắt
trong veo đang ngước nhìn tôi đau đáu dò hỏi. Tôi bất chợt nhận ra tất cả
những nét quen thuộc của Thai được lặp lại trong đứa trẻ đứng trước mặt.
Có một cái gì đó hết sức yếu ớt, nồng nàn và chân thực đến giản dị trong
giọng nói, trong con mắt, trên khuôn mặt và trong mọi điệu bộ như lột ra từ
mẹ nó.
Tiện thế đi qua một mẹt bánh, tôi mua cho nó một chiếc bánh phóng vắt
hình con cá nhưng con bé không ăn, chỉ cầm chơi trên tay. Chúng tôi cầm
tay nhau đi sóng đôi trên những vạt cỏ úa héo, đã bạc phếch bởi từng lớp
bụi bám vào. Bất ngờ con bé ngước lên mách với tôi:
- Ông ơi, con đang tập đi một chân.
- Không nên đâu, tôi bảo nó, khéo ngã đấy cháu ạ!
Con bé mặc một chiếc quần nhung may kiểu quần đi ngựa, đã vá mấy
miếng rất khéo, hai ống quần chật lấm đầy bụi gạch đỏ quạch xắn ngang
bắp chân, lại tiếp tục nhảy lò cò bên vệ đường, rồi kéo tôi đến sát một đoạn
vỉa hè khác, ở đấy nó tập nhảy từ dưới lòng đường lên vỉa hè bằng một
chân.
- Cháu ăn bánh đi! Tôi giục.
Nó liền phản đối:
- Ông không biết hôm nay ngày rằm ư?
-Thì sao?
- Phải cúng rồi mới được ăn - cặp mắt ngây thơ, trong veo vẫn ngước
lên, đầy bí mật nó thì thào - cúng thật mà, vui lắm, ông có đi theo con
không?
Tôi cười:
-Bác là người lớn, ai lại...
- Ông tưởng người lớn không cúng à? Ối người lớn già hơn ông còn
cúng.
- Mẹ cháu có cúng bao giờ không?
- Mạ con hử? Mạ con lại càng chăm cúng, cúng ở nhà xong lại còn ra
đồng cúng.
Con bé bất ngờ buông tay tôi, như một gã con trai, hình như nó chạy
theo một tiếng gọi đầy quyến rũ nào đó từ trong cảnh đổ nát, nó chạy thoăn
thoắt ẩn hiện giữa những phiến gạch lớn ngổn ngang dưới chân thành, nó
leo qua mặt Thành Cố ở quãng đố nát nhiều nhất, một thoáng sau tôi đã
thấy cái bóng đứa con gái mặc quần đi ngựa đang đứng tít trên cao, giữa
hai vách tường gạch sứt sẹo nham nhở như giữa hàm răng của một con thú,
nó sung sướng nhón người giơ tay vẫy tôi rối rít.
Sợ nó ngã, tôi chạy vào.
Khoảng mấy phút sau, con bé quá ngỗ nghịch bỗng hiền khô, đầy trang
trọng nó dắt tay tôi đi vào giữa một bãi tha ma. Con bé biết đâu rằng tôi
cũng chẳng lạ gì chỗ này. Tôi biết đây là bãi tha ma của thôn Hành Hoa.
Những ngày cuối chiến dịch bảy hai, đám lính bộ binh đã mệt lả chúng tôi
đã quần nhau đến nhừ tử với lính thủy quân lục chiến của bên quân ngụy
tại đây, hai bên đã giành đi giật lại cái tha ma nay không biết bao nhiêu lần.
Tôi không khỏi bỡ ngỡ. Ngày nào đang đánh nhau, chúng tôi không hề
nghĩ đây là nơi yên nghỉ của người chết mà chỉ là một khu vực địa hình vô
cùng lợi hại cho bên nào chiếm được, dù chỉ chiếm giữ được vài cái mã.
Hình như bây giơ mồ mả đông đúc hơn và cỏ mọc xanh tốt hơn. Cuộc
chiến vẫn chưa chấm dứt. Nơi yên nghỉ cuối cùng của người chết đến bây
giờ là bãi chiến trường của đám trẻ chăn bò bày trò chơi đánh trận giả la
hét đầy huyên náo. Đối với tôi, cuộc chơi thì giả nhưng nỗi đau là thật.
Chẳng lẽ trên mảnh đất tha ma này? chiến tranh đã trở thành một thứ định
mệnh: Cũng như đám người lớn đã nằm xuống, bọn trẻ chúng lại chạy
nằm, nằm chạy, rình núp, mắt sáng quắc, bắn súng đùng đoàng. Những con
bò đi lang thang, đủng đinh giữa hai làn đạn, thỉnh thoảng ngước mõm lên
trời kêu "ò, ọ" bằng giọng khàn khàn nhưng dầy âm vang vọng vào tận
trong phố.
Con bé không chịu đánh mất phong thái trang trọng bắt chước của
người lớn, khi nó dắt tôi đi xuyên qua giữa hai lưới lửa bắn chéo cánh sẻ,
đưa tôi đến trước một ngôi mộ.
- Đây là hai ngôi mả của nhà con, - bỗng con bé liến thoắng - cái này
với lại cái này.
Nó liền bè chiếc bánh phỏng hình con cá nhuộm phẩm xanh đỏ ra làm
đôi. Hình như có ý cần nhắc, nó đặt nửa miếng bánh phần nào nhỉnh hơn
lên ngôi mộ trước mặt, rồi chạy sang đặt nửa kia lên một ngôi mộ bên
cạnh.
Con bé sau đó phàn nàn với tôi:
- Mả nhà con còn ít lắm. Nhà bọn chúng nó có nhiều hơn.
Tôi hỏi nó:
- Cháu lại thích nhiều ư?
- Con thích nhiều.
- Đấy là những ngôi mả của ai, cháu biết không? Tôi hỏi.
-Có chứ ông. Đây là những ngôi mả má con mới đưa từ dưới làng lên.
Đây là ngôi mả của cha con, còn đây mả chú Hệ. Mạ con dặn bốn anh em
con thế!
Tôi đứng lặng chết điếng, sau khi nghe đứa trẻ nói.
Tôi chạy đến nhìn vào hai tấm đá.
Quá đúng thật, tôi đang đứng ngay trước ngôi mộ của mình.
Tôi bước sang bên cạnh đứng hồi lâu bên mả đứa em. Bên tai tôi bỗng
nghe vang rộn lên tiếng xe trâu kêu rền rỉ. Tôi nhớ ngày năm nào tận xa
xưa thằng Hệ đánh xe trâu chở tôi đi vào rừng gia nhập bộ đội vệ quốc
đoàn. Hai vạt áo nâu mở phanh, nó đánh chiếc xe theo vệt dường mòn kéo
gỗ cứ nhẵn lỳ. Hai bánh gỗ bịt sắt cao lênh khênh lọc cọc leo dốc. Con trâu
nhà tôi trái tính trái nết, bướng bỉnh. "Hầy, hầy". Tiếng thằng Hệ thúc trâu
đầy gượng nhẹ... Lần về thăm nhà năm 1959 tôi không gặp thằng Hệ. Đã
ngoài hai mươi năm anh em không gặp nhau. Chắc chắn ở bên dưới kia là
hài cốt thằng em trai của tôi thật, chứ không phải như ngôi mộ của tôi không biết một người nào đang nằm dưới đó?
Nước mắt tôi cứ muốn trào ra, thằng Hệ đứa em cầm súng chiến đấu ở
quê hương như thế là đã hy sinh thực. Và Thai đã đem cả gia đình tôi, cả
người còn sống lần người đã chết, về đây.
- Ta ra khỏi đây thôi cháu.
Tôi buồn bã nắm bàn tay đứa trẻ.
- Ông vái đi.
Rồi nó lại thêm:
- Để con còn hạ cỗ.
Tôi chắp tay vái trước ngôi mộ thằng Hệ xong mới qua sang vái trước
ngôi mộ của mình.
Con bé, rất tự nhiên, nhón tay nhặt hai nửa chiếc bánh phỏng.
Như một kẻ lang thang, chẳng biết từ lúc nào hai bàn chân đã dẫn tôi
đến trước cái vòm cuốn rất tân kỳ cổng chợ Thành Cố. Nhưng vừa bước
vào mới mấy bước, như phải lửa tôi đã vội vã quay trở ra. Con bé lấy làm
ngạc nhiên, túm chặt lay tay tôi trì lại:
- Ông ơi, ông vào với con đi, trong chợ vui lắm!
Nó đưa tay quệt ngang mép để phi tang những mấu vụn bánh, tiếp tục
chèo kéo:
- Ông vào với con đi, mạ con ngồi đàng kia rồi!
Tôi lại càng phải vội vã rút lui thật nhanh.
Ở bên ngoài cổng chợ, tôi len lỏi, chen lấn giữa đám đông như nêm,
nắm chặt tay tôi cái đứa nhỏ vẫn còn cứ nằng nặc đòi đi chơi chợ, nhưng
con mắt tôi không ngừng quay về sau. Tôi biết Thai đang ngồi ở đâu trong
mấy dãy lều quán, sau một cái sạp hàng bày lộn xộn, la liệt trăm thứ bà
dằn, từ gương lược, ruột bấc đèn đến những phong sáp, thẻ hương... Ngoài
hai chục năm về trước trong cái đêm cùng tôi chống đò đi dỡ sắn trên rẫy,
chắc hẳn không bao giờ Thai đoán được mình lại làm cái nghề ngồi bán
hàng xén ở chợ? Thực tình sau cái hôm lần đầu biết rằng Thai là vợ người
chủ ảnh quán, tôi đã tìm vào trong chợ, kéo sụp mũ xuống, lượn đi lượn lại
trước cái sạp hàng xén ấy nhiều lần.
Nhưng lần này thì tôi không thể bước vào với con bé thông minh và
tinh quái này ở bên cạnh. Tôi dừng trước một bà lão bán bánh phỏng trước
cửa chợ, mua cho nó cả một gói.
Đến bây giờ tôi mới kịp hỏi:
- Tên cháu là gì?
- Thơm. Nghĩa là mùi thơm ấy. Còn ông tên là gì?
Tôi hơi luống cuống:
- Ông không có tên.
- Không thích ông! - Con bé bất ngờ phụng phịu - con giả ông bánh
phỏng đây...
Tôi phái vội vàng bịa ra một cái tên khác cho mình và ấn lại cái gói
bánh vào ngực nó. Nhưng lạ thay, mặt mũi đứa trẻ trở nên hết sức âu sầu
buồn bã. Nó cụp hàng mi xuống trong lúc hỏi tôi:
- Ông không muốn gặp mạ con à?
- Thơm, sao cháu lại nói thể?
- Lúc nãy con thấy ông chạy.
Tôi cúi xuống bế xốc đứa con gái nhỏ của Thai trên tay. Tôi hôn mãi
lên nửa bên mặt có cái răng khểnh của nó và cảm thấy một con mắt cùng
nửa mặt bên kia của đứa trẻ đang nhìn tôi - tưởng như người chủ ảnh quán
đang nhìn tôi.
III
ôi đặt đứa trẻ xuống. Tự nhiên tôi hơi ngượng với nó đồng thời cảm
thấy một chút hơi hướng của một người đàn bà mà ký ức đầy hoang
vắng của tôi còn giữ gìn được cùng với những ngày tháng, những
khung cảnh tôi đã đánh mất.
Tôi chợt nhớ lại ngày ấy cưới Thai về bên nhà tôi xong, tuy chỉ còn
phép được ở nhà có mấy ngày nhưng tôi tranh thủ làm được khối việc cho
cha tôi. Sáng nào tôi và Thai cũng đánh chiếc xe trâu vào rừng chặt củi. Có
hôm hai đứa chống chiếc thuyền gỗ ngược dòng sông Đồng Vôi lên những
vùng thung lũng tận trong khe núi, mãi tối mịt mới về. Dạo ấy đang giữa
tháng mưa, con sông Đồng Vôi trước làng ngập đầy nước ăm ắp, gia đình
nào cũng hạ những chiếc thuyền buộc úp sau vách liếp xuống đế đi đào sắn
hoặc đi cắt tranh về dọi nhà. Thai mảnh khảnh như chiếc lạt mà sức dai
hơn tôi . Cả ngày đi làm, tối về lại đi gác, đi hội họp với anh chị em du
kích Có hôm mãi gần nữa đêm mới mò về gõ cửa buồng cành cạch: "Anh
Lực, anh Lực". Tôi đã choàng thức dậy nhưng lại giả vờ ngáy rất to. Thai
vòng ra sau nhà lấy báng súng gỗ vào vách liếp chỗ đầu giường. Cha tôi
nằm ngoài hè phái lên tiếng: 'Mi ngủ chi mà ngủ như chết vậy Lực?" Thai
biết thừa tôi dang trêu cô nên liền đánh tiếng: 'Anh ấy ngủ say lắm, vậy thì
con trở ra ngoài trạm gác ngủ với các chị em vậy?". Tôi cố nhịn cười, lần
dậy đi rón rén tới kéo cái then cài cửa. Tôi quẹt diêm châm đèn nói nghiêm
trang:
- Em đưa c...
 





